Hoạt động ngân hàng “ngầm” được cho là một trong những nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2009 và đây còn là cái “ổ” cho tội phạm rửa tiền hoạt động.
Ngân hàng “ngầm” chiếm tới 25-30% của toàn hệ thống tài chính và khoảng một nửa quy mô các tài sản ngân hàng trên thế giới

Mới đây, sự kiện Trung Quốc đã phá vỡ hệ thống ngân hàng “ngầm” lớn nhất liên quan tới các giao dịch với tổng trị giá lên tới 410 tỷ nhân dân tệ (NDT). Phía Trung Quốc cho biết, đây là một trong những hành động chống lại nạn rửa tiền đang "hoành hành" tại quốc gia này. Tuy nhiên, điều đáng nói là việc truy quét hệ thống ngân hàng “ngầm” này  của Trung Quốc đã gióng lên hồi chuông báo động trên toàn cầu. 

 Tính đến nay, Công an Trung Quốc đã phá vỡ 66 ngân hàng “ngầm”, bắt hơn 160 kẻ tình nghi phạm tội, tổng số tiền liên quan lên tới 430 tỷ NDT. Được biết, các băng nhóm này có liên quan tới một ông trùm đang điều hành hàng chục công ty tại Hồng Kông liên quan tới các giao dịch ngoại tệ trái phép và rửa tiền.

Theo thống kê, hiện nay trên thế giới, ngân hàng “ngầm” chiếm tới 25-30% của toàn hệ thống tài chính và khoảng một nửa quy mô các tài sản ngân hàng. Đặc biệt, từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, hoạt động ngân hàng ngầm càng bành trướng trong bối cảnh các NHTM truyền thống bị nhiều sự quản lý hơn.

Theo dữ liệu của Ủy ban Ổn định tài chính (FSB), một nhóm các nhà làm chính sách tài chính toàn cầu, số lượng và khối lượng giao dịch của hoạt động ngân hàng "ngầm" tăng dần từ năm 2000, nhưng tăng vọt kể từ sau năm 2008.

Còn theo dữ liệu của Bloomberg, tính đến năm 2012, hệ thống ngân hàng "ngầm" toàn cầu đã tăng vọt từ quy mô 60.000 tỷ USD năm 2011 lên 67.000 tỷ USD.

Theo báo cáo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) công bố mới đây cho biết, Mỹ là nước có hệ thống ngân hàng ngầm lớn nhất thế giới với tổng giá trị vào khoảng 15.000 - 25.000 tỷ USD, gấp đôi khối lượng tài sản của các ngân hàng chính thống.

Tại khu vực đồng tiền chung châu Âu, giá trị này thấp hơn song vẫn ở mức cao, xấp xỉ 60% tổng tài sản của các ngân hàng thông thường. Trong khi đó, ở Trung Quốc, IMF ước tính các ngân hàng ngầm chiếm tới 35-50% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP).

Rửa tiền thông qua hệ thống ngân hàng “ngầm”

Tại một số nước, hệ thống ngân hàng hoạt động kém hiệu quả, đắt đỏ mà lại quan liêu. Do đó, trong cộng đồng những người nước ngoài tại các quốc gia này tồn tại hệ thống ngân hàng không chính thức, đấy chính là ngân hàng “ngầm”. Hệ thống ngân hàng "ngầm" này hoạt động và luân chuyển tài chính như các ngân hàng chính thức nhưng với chi phí dịch vụ rẻ hơn, bí mật hơn các ngân hàng hợp pháp.

Các ngân hàng "ngầm" có đại diện ở nhiều nước khác nhau để thực hiện dịch vụ chuyển tiền từ nước này sang nước khác hoặc từ thành phố này sang thành phố khác trong cùng một quốc gia. Sự hoạt động của ngân hàng này chủ yếu dựa trên niềm tin giữa ngân hàng và bạn hàng nên thủ tục giấy tờ gọn nhẹ.

Bọn tội phạm lợi dụng nguyên tắc giữ bí mật của những ngân hàng này đã đem tiền đến gửi và yêu cầu nhận lại ở một thành phố khác. Những địa chỉ cần nhận tiền tẩy rửa thông thường là những quốc gia khao khát đầu tư tài chính nhưng ít quan tâm đến nguồn gốc đồng tiền, việc thanh toán qua ngân hàng chưa phải là yêu cầu bắt buộc và phổ biến, hệ thống pháp luật về phòng, chống rửa tiền chưa nghiêm...

Việt Nam quyết ngăn chặn hoạt động ngân hàng "ngầm"

Theo TS. Võ Trí Thành, tín dụng đen là một phần trong khái niệm ngân hàng “ngầm”, tín dụng phi chính thức. Hệ thống ngân hàng "ngầm" tồn tại song song với hệ thống ngân hàng truyền thống và có mặt tại nhiều quốc gia trên thế giới.

Nhiều ý kiến cho rằng, không riêng gì các nước, nhiều hoạt động cho vay bởi các định chế tài chính phi ngân hàng, hay nói khác là hoạt động ngân hàng "ngầm" cũng đang diễn ra ở Việt Nam.

Hoạt động của bọn tội phạm rửa tiền thông qua ngân hàng “ngầm” như giao dịch mua, bán trái phiếu, repo chứng khoán (nhà đầu tư đi vay tiền và thế chấp bằng cổ phiếu), margin (giao dịch ký quỹ) tại các công ty chứng khoán... bản chất chính là nhà đầu tư vay tiền và khá nhiều nguồn tiền vốn được chuyển qua kênh này rất phức tạp. Do vậy, nếu phát triển hơn nữa là không kiểm soát được.

Để ngăn chặn hoạt động này, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã và đang tăng cường tuyên truyền cơ chế, chính sách tín dụng ngân hàng đến người dân. Đồng thời đổi mới chính sách cho vay theo hướng thông thoáng, tăng cường tự chủ, tự chịu trách nhiệm của TCTD. NHNN cũng chỉ đạo các NHTM chủ động tiếp cận và hướng dẫn người dân làm thủ tục vay, tiếp tục đơn giản hóa thủ tục cho vay.

Bên cạnh đó, NHNN đẩy nhanh tiến độ cơ cấu lại các NHTM, nâng cao chất lượng tài chính, chất lượng cán bộ, mở rộng mạng lưới, tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, tăng khả năng mở rộng cho vay đáp ứng nhu cầu vốn của tổ chức kinh tế và dân cư, nhất là địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa…

Đặc biệt, nhiều vụ tín dụng đen xảy ra ở những vùng nông thôn, có thể có nguyên nhân do người dân chưa biết địa điểm giao dịch của các NHTM, hoặc biết nhưng chưa trực tiếp tiếp cận các dịch vụ hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Vì vậy, ngân hàng đã có giải pháp mở rộng mạng lưới hoạt động bao gồm cả NHTM và Ngân hàng Chính sách xã hội, các Quỹ tín dụng nhân dân hoạt động ở khu vực nông nghiệp, nông thôn, có chính sách khuyến khích các ngân hàng mở rộng mạng lưới phục vụ nông nghiệp, nông thôn và nông dân.


Nguyễn Hải