Ngành ngân hàng là ngành hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, quản lý lượng tiền gửi rất lớn và liên quan trực tiếp tới các tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Ảnh minh họa

Do vậy, công tác phòng, chống tham nhũng, rửa tiền và tội phạm của ngành ngân hàng rất quan trọng.

Theo thống kê của lực lượng Công an, trong tổng số các vụ phạm tội thì lĩnh vực ngân hàng chỉ chiếm 0,22%, tuy nhiên mức độ thiệt hại của các vụ án trong lĩnh vực ngân hàng lại chiếm tới 60%. Điều này không chỉ gây ra thiệt hại trực tiếp tới chính lợi nhuận của ngân hàng mà còn gây ra nhiều hậu quả kinh tế rất nghiêm trọng. 

Còn theo kết quả khảo sát của Văn phòng Ban chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống tham nhũng đối với 30 vụ án xảy ra trong lĩnh vực tín dụng, ngân hàng thời gian qua cho thấy, trong 117 bị can bị khởi tố thì có tới 81 bị can là cán bộ ngân hàng (chiếm 69,2%).

Có thể nói, tội phạm ngân hàng diễn ra nhiều lĩnh vực như: cướp, lừa đảo chiếm đoạt tài sản; tội phạm sử dụng công nghệ cao; tham ô…. Trong đó, nếu như tội phạm công nghệ cao làm thiệt hại về kinh tế cho các ngân hàng rất lớn thì loại tội phạm ngay trong nội bộ ngân hàng lại nguy hiểm hơn bởi mức độ tinh vi, khó phát hiện và để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của ngân hàng. Ngoài ra, cũng phải kể đến loại tội phạm công nghệ cao đã gây thiệt hại lớn về kinh tế cho hệ thống các ngân hàng.

Theo luật sư Trương Thanh Đức, Chủ tịch CLB Pháp chế của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, nguyên nhân chính của tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng là xuất phát từ hậu quả của thời kỳ tăng trưởng nóng của cả hệ thống ngân hàng. Nay gặp tình hình kinh tế - xã hội khó khăn, kết hợp với sự lỏng lẻo của hệ thống pháp luật khiến tội phạm trong lĩnh vực này gia tăng.

Vì vậy, theo luật sư Trương Thanh Đức, để nâng cao hiệu quả phòng chống tội phạm, các ngân hàng cần đầu tư lắp đặt các thiết bị an ninh giám sát như camera, thẻ từ, thẻ chip và thuê lực lượng bảo vệ chuyên nghiệp. Bên cạnh đó, cần tăng cường cơ chế giám sát và quản lý, đặc biệt là vấn đề quản lý quỹ bởi lẽ thực tế cho thấy, nhiệm vụ kiểm quỹ phải làm hằng ngày nhưng nay, tại nhiều ngân hàng, chỉ kiểm lấy lệ, kho quỹ cũng không đóng/mở theo quy trình mà mở luôn cả ngày để tiện xuất, nhập tiền mặt.

Còn ông Bùi Huy Thọ, đại diện của cơ quan Thanh tra, giám sát NHNN cho rằng, nguyên nhân gia tăng tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng là do đạo đức của một bộ phận cán bộ ngân hàng xuống cấp, năng lực yếu kém, quản lý, quản trị kém, thiếu chiến lược kinh doanh. Ngoài ra, do một số ngân hàng chưa chủ động phát hiện hành vi tham nhũng trong nội bộ NH; và rất ít vụ án được phát hiện, xử lý từ trong nội bộ tổ chức tín dụng, NH. Đồng thời, hoạt động của hệ thống kiểm soát - kiểm toán nội bộ còn hạn chế; thậm chí hoạt động kém hiệu quả, chưa đáp ứng được yêu cầu về phòng ngừa, phát hiện, xử lý hành vi tham nhũng.

Theo đánh giá của NHNN, năm 2014, ngành ngân hàng đã làm tốt công tác quán triệt, tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Đồng thời cũng  đã tổ chức rà soát, thành lập và kiện toàn ban chỉ đạo; sửa đổi, bổ sung quy chế hoạt động.

Các đơn vị đã thực hiện tốt công tác thu thập, xử lý thông tin giao dịch đáng ngờ và phối hợp trao đổi thông tin với cơ quan chức năng về phòng, chống rửa tiền. Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cũng đã tiếp tục chỉ đạo các đơn vị trong Ngành thực hiện tốt 10 giải pháp phòng ngừa tham nhũng. Đặc biệt, đã phát hiện, xử lý một số vụ việc tham nhũng qua hoạt động tự kiểm tra nội bộ của các đơn vị trong ngành và qua công tác thanh tra của NHNN…

Để công tác phòng, chống tham nhũng, rửa tiền và tội phạm của ngành Ngân hàng đạt hiệu quả, theo NHNN, các đơn vị trong ngành tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác phòng, chống tham nhũng và tội phạm. Trong đó, bám sát nội dung các văn bản của Nhà nước, hướng dẫn thực hiện của Ban Chỉ đạo TW trong việc thực hiện Chiến lược quốc gia về phòng, chống tham nhũng đến năm 2020.

Đồng thời, thực hiện nghiêm túc Chỉ thị của Thống đốc NHNN về công tác thanh tra, giám sát, phòng, chống tham nhũng, sai phạm trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng.

12 dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực ngân hàng:

Theo luật Phòng, chống rửa tiền quy định 12 tiêu chí để nhận biết dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực ngân hàng bao gồm:

1. Có sự thay đổi đột biến trong doanh số giao dịch trên tài khoản; tiền gửi vào và rút ra nhanh khỏi tài khoản; doanh số giao dịch lớn trong ngày nhưng số dư tài khoản rất nhỏ hoặc bằng không.

2. Các giao dịch chuyển tiền có giá trị nhỏ từ nhiều tài khoản khác nhau về một tài khoản hoặc ngược lại trong một thời gian ngắn; tiền được chuyển qua nhiều tài khoản; các bên liên quan không quan tâm đến phí giao dịch; thực hiện nhiều giao dịch, mỗi giao dịch gần mức giá trị lớn phải báo cáo.

3. Sử dụng thư tín dụng và các phương thức tài trợ thương mại khác có giá trị lớn, tỷ lệ chiết khấu với giá trị cao so với bình thường.

4. Khách hàng mở nhiều tài khoản tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài ở khu vực địa lý khác nơi khách hàng cư trú, làm việc hoặc có hoạt động kinh doanh.

5. Tài khoản của khách hàng không giao dịch trên một năm, giao dịch trở lại mà không có lý do hợp lý; tài khoản của khách hàng không giao dịch đột nhiên nhận được một khoản tiền gửi hoặc chuyển tiền có giá trị lớn.

6. Chuyển số tiền lớn từ tài khoản của doanh nghiệp ra nước ngoài sau khi nhận được nhiều khoản tiền nhỏ được chuyển vào bằng chuyển tiền điện tử, séc, hối phiếu.

7. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển tiền ra nước ngoài ngay sau khi nhận được vốn đầu tư hoặc chuyển tiền ra nước ngoài không phù hợp với hoạt động kinh doanh; doanh nghiệp nước ngoài chuyển tiền ra nước ngoài ngay sau khi nhận được tiền từ nước ngoài chuyển vào tài khoản mở tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.

8. Khách hàng thường xuyên đổi tiền có mệnh giá nhỏ sang mệnh giá lớn.

9. Giao dịch gửi tiền, rút tiền hay chuyển tiền được thực hiện bởi tổ chức hoặc cá nhân liên quan đến tội phạm tạo ra tài sản bất hợp pháp đã được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng.

10. Khách hàng yêu cầu vay số tiền tối đa được phép trên cơ sở bảo đảm bằng hợp đồng bảo hiểm đóng phí một lần ngay sau khi thanh toán phí bảo hiểm, trừ trường hợp tổ chức tín dụng yêu cầu.

11. Thông tin về nguồn gốc tài sản sử dụng để tài trợ, đầu tư, cho vay, cho thuê tài chính hoặc uỷ thác đầu tư của khách hàng không rõ ràng, minh bạch.

12. Thông tin về nguồn gốc tài sản bảo đảm của khách hàng xin vay vốn không rõ ràng, minh bạch.

 


Lê Nhung