Trong 3 năm (2013-2015) giá trị sản xuất lĩnh vực trồng trọt tăng khá, trung bình tăng 2,6%/năm.

Bộ NN&PTNT cho biết, qua 3 năm (2013- 2015) triển khai thực hiện tái cơ cấu, Bộ đã và đang tiến hành rà soát cơ cấu các loại cây trồng chủ lực; xây dựng phương án chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu, lợi thế của các vùng, miền, địa phương và nhu cầu thị trường.

Xuất khẩu các sản phẩm trồng trọt duy trì ở mức 14,5 tỷ USD/năm 

Các địa phương đã chuyển đổi được khoảng 390 ngàn ha gieo trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản, trồng ngô, các cây màu và cây làm thức ăn chăn nuôi có hiệu quả cao hơn, rõ nhất là ở ĐBSCL, ĐBSH (mục tiêu năm 2020 cả nước chuyển đổi 700 ngàn ha). Đối với các vùng khô hạn, nhiễm mặn từng bước chuyển trồng lúa sang phát triển các cây chịu hạn, cỏ làm thức ăn chăn nuôi hoặc nuôi trồng thủy sản.

Xây dựng được nhiều mô hình cánh đồng lớn sản xuất lúa gạo, gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị. Từ năm 2013 đến hết vụ Đông Xuân năm 2016 đã có nhiều mô hình cánh đồng lớn liên kết xây dựng ở các địa phương với diện tích khoảng 556 ngàn ha, trong đó vùng ĐBSCL có diện tích thực hiện liên kết lớn nhất là 450 ngàn ha; nhiều vùng sản xuất cây công nghiệp, cây ăn quả hàng hoá tập trung quy mô lớn được duy trì, mở rộng: vùng cao su, cà phê, điều, hồ tiêu (Đông Nam Bộ và Tây Nguyên); vùng chè (Trung du miền núi phía Bắc và Lâm Đồng); vùng cây ăn quả Nam Bộ, thanh long ở Bình Thuận, vải thiều ở Bắc Giang...

Tập trung chuyển đổi cơ cấu giống cây, tập trung đối với giống lúa, ngô chất lượng cao. Cơ cấu giống và tỷ lệ sử dụng giống lúa xác nhận đã tăng mạnh, chất lượng gạo được nâng cao phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Tỷ lệ sử dụng giống xác nhận của các tỉnh phía Bắc đạt trên 80%, khu vực miền Trung đạt trên 50%, vùng ĐBSCL đạt khoảng 45%; đã hoàn thành thủ tục khảo nghiệm, đánh giá an toàn sinh học và đưa giống ngô biến đổi gen ra sản xuất.

Đối với các cây công nghiệp chủ lực: Bộ và các địa phương đang tiến hành rà soát lại quy hoạch, đồng thời thực hiện các giải pháp căn cơ để cải tạo vườn cây, phổ biến áp dụng các quy trình sản xuất tốt nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm.

Với cây cà phê, tập trung thâm canh vườn cây hiện có và tái canh diện tích cà phê già cỗi. Đến nay đã trồng tái canh và ghép cải tạo được gần 62 ngàn ha, dự kiến hết năm 2016 đạt 79 ngàn ha (đạt tỷ lệ khoảng 66% so với mục tiêu tái canh 120 ngàn ha vào năm 2020). Diện tích cà phê tái canh 3 năm cho thu bói đạt 2-2,5 tấn cà phê nhân/ha, cao hơn năng suất đại trà. Hiện có khoảng 40% sản lượng cà phê có xác nhận, giá trị cao.

Đối với cây điều, tiếp tục tập trung chỉ đạo tăng mạnh diện tích tái canh, ghép cải tạo vườn điều đã được quy hoạch. Đã sản xuất được trên 3 triệu chồi ghép phục vụ công tác ghép cải tạo vườn điều. Đến nay, diện tích tái canh, ghép cải tạo được trên 35 ngàn ha (chiếm khoảng gần 60% mục tiêu đến năm 2020). Phần lớn diện tích điều sau khi trồng tái canh và ghép cải tạo đã được đầu tư áp dụng kỹ thuật thâm canh tiên tiến, năng suất đạt trên 3 tấn/ha, gấp 3 lần so với vườn điều cũ. 

Các cây ăn quả, rau hoa được xác định là ngành có lợi thế cạnh tranh, thị trường thuận lợi, còn có thể phát triển nhiều hơn nữa; nhiều địa phương đã quy hoạch vùng cây ăn quả chủ lực tập trung, vùng rau hoa công nghệ cao; đồng thời tiếp tục mở rộng diện tích sản xuất, áp dụng công nghệ cao và sản xuất theo tiêu chuẩn GAP để phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

Trong 3 năm (2013-2015) giá trị sản xuất lĩnh vực trồng trọt tăng khá, trung bình tăng 2,6%/năm. Giá trị sản phẩm thu được trên 01 ha đất trồng trọt năm 2015 ước đạt 83 triệu đồng (tăng khoảng 10,2 triệu đồng so với năm 2012). Năng suất của hầu hết các loại cây trồng chủ lực tăng mạnh, chất lượng một số loại nông sản được cải thiện đáng kể như lúa gạo, thanh long, vải, nhãn, bưởi, chè,...

Xuất khẩu các sản phẩm trồng trọt duy trì ở mức 14,5 tỷ USD/năm; 6 tháng đầu năm 2016 ước đạt 7,5 tỷ USD. Hiện có 7 mặt hàng có vị trí xuất khẩu trên 1 tỷ USD/năm gồm: gạo 2,8 tỷ USD, cao su 1,53 tỷ USD, cà phê 2,67 tỷ USD, hạt điều 2,4 tỷ USD, hạt tiêu 1,26 tỷ USD, rau quả 1,84 tỷ USD, sắn và sản phẩm từ sắn 1,3 tỷ USD. Một số mặt hàng có thị trường, giá trị xuất khẩu tăng mạnh như  rau quả tăng bình quân 42,8%/năm, hạt tiêu tăng 23%/năm, hạt điều tăng 16,5%/năm.

Diệu Thùy