Luật bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) vừa được Quốc hội biểu quyết thông qua sáng 25/6 với 449 ĐBQH, tỷ lệ 90,89%.

Người Việt cư trú ở nước ngoài phải về Việt Nam bầu cử

Trước ý kiến đề nghị quy định cách thức để cử tri là công dân Việt Nam cư trú, làm việc ở nước ngoài thực hiện quyền bầu cử, Uỷ ban thường vụ Quốc hội cho biết, Luật hiện hành cũng như các quy định trong dự thảo Luật này không hạn chế quyền bầu cử cũng như quyền ứng cử của công dân Việt Nam là người cư trú, làm việc ở nước ngoài.

“Tuy nhiên, vì những lý do chưa thể xử lý được về kỹ thuật bầu cử nên trong giai đoạn trước mắt chúng ta chưa thể bảo đảm tổ chức việc bỏ phiếu bầu cử ở ngoài lãnh thổ Việt Nam. Bởi vậy, để thực hiện quyền bầu cử, công dân Việt Nam cần thực hiện các yêu cầu quy định tại khoản 4 Điều 29 của dự thảo Luật. Do đó, đề nghị Quốc hội cho giữ quy định này của dự thảo Luật.

Quốc hội biểu quyết thông qua Luật bầu cử ĐBQH và ĐB HĐND với tỷ lệ trên 90%

Theo đó, công dân Việt Nam ở nước ngoài trở về Việt Nam trong khoảng thời gian từ sau khi danh sách cử tri đã được niêm yết đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ, thì đến UBND cấp xã xuất trình Hộ chiếu có ghi quốc tịch Việt Nam để ghi tên vào danh sách cử tri và nhận thẻ cử tri để bầu ĐBQH và ĐB HĐND cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã (nếu xuất trình tại nơi đăng ký cư trú); bầu đại biểu Quốc hội và ĐB HĐND cấp tỉnh, cấp huyện (nếu xuất trình tại nơi đăng ký tạm trú).

Tỷ lệ ứng cử nữ ĐBQH tối thiểu là 35%

Trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến của ĐBQH về dự thảo Luật bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Chủ nhiệm Ủy ban pháp luật của Quốc hội Phan Trung Lý  cho biết, nhiều ý kiến tán thành với quy định của dự thảo Luật về việc dự kiến số lượng người được giới thiệu ứng ĐBQH nhưng có ý kiến đề nghị nâng tỷ lệ người ứng cử ĐBQH là người dân tộc thiểu số lên thành 20% -25%; nâng tỷ lệ người ứng cử đại biểu là nữ lên thành 38%-40%.

Uỷ ban thường vụ Quốc hội thấy rằng, hiện tại số đại biểu là người dân tộc thiểu số trong Quốc hội mới chỉ đạt 15,6%, số đại biểu là nữ mới đạt 24,4%. Do vậy, Quốc hội cho giữ quy định về tỷ lệ người được giới thiệu ứng cử có ít nhất 18% tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử ĐBQH là người dân tộc thiểu số và ít nhất 35% tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử ĐBQH là phụ nữ. Tuy nhiên, đây chỉ là mức tỷ lệ tối thiểu cần đạt được. Tùy theo tình hình, yêu cầu của từng nhiệm kỳ, từng cuộc bầu cử mà tỷ lệ này có thể được xác định ở mức cao hơn.

Nhiều ý kiến đề nghị cần quy định cụ thể tỷ lệ người ứng cử đại biểu HĐND là nữ, là người dân tộc thiểu số tương tự như quy định đối với người ứng cử ĐBQH. Tiếp thu ý kiến của ĐBQH, Điều 9 của Luật được chỉnh lý theo hướng bảo đảm có ít nhất 35% tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu HĐND là phụ nữ.

Đối với số lượng người ứng cử là người dân tộc thiểu số tại HĐND từng cấp, từng địa phương thì cần được xác định cụ thể căn cứ theo đặc điểm dân cư, yêu cầu, tình hình thực tế của địa phương. Do đó, Luật chỉ quy định: “Số lượng người ứng cử là người dân tộc thiểu số được xác định phù hợp với tình hình cụ thể của từng địa phương”.

ĐBQH cũng có ý kiến đề nghị cần có quy định linh hoạt hơn về thời gian kết thúc việc bỏ phiếu. Nhưng UBTVQH nhận thấy, việc kết thúc bỏ phiếu và tiến hành kiểm phiếu sớm tại khu vực bỏ phiếu này có thể sẽ làm ảnh hưởng đến kết quả bầu cử tại các khu vực bỏ phiếu khác. Do vậy, Luật chỉ  quy định “Việc bỏ phiếu bắt đầu từ bảy giờ sáng đến bảy giờ tối cùng ngày. Tùy tình hình địa phương, Tổ bầu cử có thể quyết định cho bắt đầu việc bỏ phiếu sớm hơn nhưng không được trước năm giờ sáng hoặc kết thúc muộn hơn nhưng không được quá chín giờ tối cùng ngày” (khoản 1 điều 71).

Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân có 10 chương 98 điều và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/9/2015.

Trường Giang