Nhập khẩu giáo dục Bắc Âu: Một lần nữa học trò Việt lại được mang ra thí nghiệm?

Hoàng Thanh

Khi nghe tin chúng ta chuẩn bị nhập khẩu chương trình giáo dục của Bắc Âu tôi khá hoang mang. Không biết hiểu nên hân hoan đón nhận vì sự cầu thị của Bộ hay lại buồn vì một lần nữa ngành giáo dục bắt các học sinh bước vào một cuộc thí nghiệm mới?

Trước thềm năm học mới, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phùng Xuân Nhạ và một số hiệu trưởng các trường phổ thông, đại học đã có chuyến công tác đến ba nước Bắc Âu (Phần Lan, Thụy Điển, Đan Mạch). Sau chuyến đi của Bộ trưởng Nhạ, mấy ngày sau, một số tờ báo có đưa tin "Việt Nam sẽ “nhập khẩu” nền giáo dục Bắc Âu".

Ngay lập tức, thông tin này đã thu hút sự quan tâm của rất nhiều người. Có người tỏ ra hân hoan, phấn khích nhưng cũng có ý kiến phản đối gay gắt việc nhập khẩu chương trình nhất là trong thời điểm hiện tại khi bài học về sự thất bại của mô hình trường học mới VNEN vẫn còn đó.

Liên quan đến vấn đề này, PV báo Infonet đã có cuộc trò chuyện cùng thầy Lê Đức Vĩnh – Nguyên trưởng bộ môn Toán (Học viện Nông nghiệp Việt Nam).

Thầy Vĩnh chia sẻ: “Khi nghe tin đất nước chúng ta chuẩn bị nhập khẩu chương trình giáo dục của Bắc Âu tôi khá hoang mang. Không biết hiểu nên hân hoan đón nhận vì sự cầu thị của Bộ GD&ĐT hay lại buồn vì một lần nữa ngành giáo dục bắt các học sinh bước vào một cuộc thí nghiệm mới.

Đón nhận tin này làm tôi lại nhớ tới việc phải vào các bản làng Ê Đê quanh thị xã Buôn Ma Thuột vào những ngày tháng 3 năm 1975. Hình ảnh in đậm nét cho tới bây giờ tôi vẫn không quên đó là hình ảnh những vị trung niên Ê Đê với trang phục đặc biệt, đầu đội mục phớt, áo sơ mi trắng thắt cà vạt nhưng lại đóng khố với đôi chân trần.

Không hiểu, ý tưởng nhập khẩu công nghệ giáo dục của Bắc Âu mà cụ thể là Phần Lan có biến nền giáo dục nước nhà theo kiểu trên tây dưới ta giống những vị trung niên người Ê Đê khi hấp thụ văn minh ngoại bang hay không?

Khi nhận ra mình còn kém xa so với bầu bạn thì việc học theo người ta để trở nên văn minh hơn, tiến bộ hơn là điều cần thiết. Nhưng học ai, học như thế nào, lại là điều cần phải suy nghĩ để lựa chọn cách học cho thích hợp.

Chương trình giáo dục kể cả bậc phổ thông lẫn bậc đại học của mỗi quốc gia không phải là thứ bất biến, nó thay đổi dần theo năm tháng để phù hợp với việc phát triển về kinh tế, về văn hoá của đất nước và xã hội”.

Bộ trưởng  Phùng Xuân Nhạ trò chuyện với sinh viên nước ngoài nhân chuyến thăm Phần Lan, Thụy Điển và Đan Mạch (ảnh: Đào Ngọc Tước)

Thầy Vĩnh cũng chia sẻ thêm: “ Nhập chương trình giáo dục của một nước có thu nhập bình quân đầu người gấp 30 lần Việt Nam liệu có phải là một giải pháp khả thi hay không? Chúng ta nên nhớ rằng người Phần Lan thu nhập cao nhưng học sinh trường công từ bậc phổ thông tới bậc đại học không phải đóng học phí.

Còn ở đất nước chúng ta con em nông dân, công nhân và đa phần những người làm công ăn lương, cơm mới đủ ăn, áo nhiều em chưa đủ ấm, phải đóng học phí thì không hiểu chúng ta sẽ dạy các em những gì và dạy ra sao.

Mỗi lớp học bậc phổ thông ở Phần Lan có không quá 30 học sinh. Còn ở ta, xin lấy một trường trọng điểm quốc gia trên địa bàn quận Cầu Giấy (Hà Nội) làm ví dụ, các lớp học từ lớp 1 tới lớp 5 đều có khoảng 60 học sinh. Việc học, nghỉ trưa, sinh hoạt lớp đều bó gọn trong lớp học với diện tích khoảng 60 mét vuông.

Sân trường quá chật hẹp để làm nơi sinh hoạt chung cho 3000 học sinh. Phòng thể dục thể thao không có, các phương tiện trợ giúp cho việc học cũng không, với cơ sở vật chất như vậy, liệu nhập khẩu chương trình tiểu học của Phần Lan về áp dụng tại Việt Nam liệu có khả thi được không? Trường trọng điểm quốc gia giữa lòng thủ đô đã vậy, các trường tiểu học ở vùng sâu vùng xa thì càng thảm hại hơn nhiều.

Hơn nữa, cách suy nghĩ, điều kiện sống, cách quản lý xã hội ở nước ta cách Phần Lan một khoảng khá xa. Việc đưa chương trình giáo dục của một đất nước mà người dân có mức sống hàng đầu thế giới về dạy cho lớp trẻ mà cha mẹ chúng ngày đêm phải vật lộn với cuộc sống để có được chỗ ở ấm cúng, có đủ cái ăn cái mặc cho con thì quả là kỳ lạ.

Điều này chẳng khác cảnh thanh niên Ê Đê đội mũ phớt thắt cà vạt nhưng lại đóng khố, đi chân trần là bao.

Đó là chưa kể, hơn 90% giáo viên bậc tiểu học ở nước ta không biết thế nào là nốt đồ, thế nào là nốt pha, thế nào là si thăng, thế nào là si giáng, không hiểu có mấy màu cơ bản và việc tạo màu không cơ bản bằng cách nào thì làm sao dạy âm nhạc và hội họa cho học sinh tiểu học được? Ở Phần Lan 100% giáo viên phổ thông phải có bằng cao học.

Rồi chuyện ở Việt Nam ta có nhiều “lò ấp” cao học hoặc tiến sĩ nhưng hiệu quả của các lò ấp này thế nào chắc mọi người cũng hiểu. Những giáo viên thạc sĩ hay tiến sĩ được ấp từ các lò đào tạo này sẽ đưa nền giáo dục Việt đi về đâu?

Thời tôi học tiểu học, các thày cô của chúng ta chỉ có trình độ trung cấp sư phạm, thế nhưng thời đó dù thiếu thốn về vật chất và tài liệu nhưng thày vẫn ra thầy trò cũng ra trò. Còn thời nay, giáo viên bậc tiểu học đa phần có bằng cử nhân hoặc thạc sĩ, nhưng thầy cô thế nào, học trò ra sao thì xã hội đều tỏ. Điều này không biết ngài Bộ trưởng có thấu hay không?

Học và làm theo người khác không phải là quá khó nhưng cũng không phải quá dễ. Chọn cách học và làm theo phải phù hợp với năng lực và hoàn cảnh của mình.

Không hiểu người Việt chúng ta còn phải chứng kiến thất bại mới của ngành giáo dục hay không, học sinh của chúng ta còn phải làm "chuột bạch" cho những thí nghiệm không khả thi do những người thích đẽo cày giữa đường tới khi nào?”.

cùng chuyên mục
Kéo xuống để xem tiếp nội dung
Xem thêm trên infonet