Là một quốc gia có hệ thống ngân hàng phát triển hàng đầu thế giới, Nhật Bản đã có những bước hoàn thiện Hệ thống Phòng, chống rửa tiền (AML) từ rất sớm.

Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF) được thành lập vào năm 1989. Các khuyến nghị của FATF trở thành biện pháp AML toàn cầu.  Luật AML đầu tiên được ban hành tại Nhật Bản vào tháng 7 năm 1992 và được sửa đổi với các khuyến nghị mới nhất của FATF. Nhờ vậy, các biện pháp AML ở Nhật Bản đã tiến triển từng giai đoạn, phù hợp bước đi của cộng đồng quốc tế.

Ảnh minh họa

Chẳng hạn, sau khi FATF đưa ra “40 khuyến nghị” vào tháng 4 năm 1990, vào tháng 7 năm 1992 Nhật Bản đã ban hành “Quy định báo cáo các giao dịch đáng ngờ”. Gần đây, sau khi FATF phát biểu kết quả kiểm tra chéo Nhật Bản lần thứ 3 vào tháng 10 năm 2008, Nhật Bản đã ban hành luật AML sửa đổi vào tháng 4 năm 2011, luật có hiệu lực từ tháng 4 năm 2013.

Luật AML ở Nhật Bản gồm ba luật. Ba luật này thuộc hai quy định chính là “Quy định về phòng chống chuyển lợi nhuận có được do phạm tội” và “Quy định về kiểm soát lợi nhuận có được do phạm tội”. Trong đó “Quy định phòng chống chuyển lợi nhuận có được do phạm tội” yêu cầu các cơ quan tài chính có nghĩa vụ thực hiện các biện pháp phòng chống rửa tiền.

Các tổ chức tài chính tại Nhật Bản có nghĩa vụ với Luật AML đối với khác hàng và các cơ quan hành chính có thẩm quyền.  

Đối với khách hàng, tổ chức tài chính phải xác minh danh tính, nhân thân khách hàng ở thời điểm giao dịch, mục đích giao dịch, xác minh tài sản và thu nhập của khách hàng đối với giao dịch trên 2 triệu Yên, lập và lưu trữ hồ sơ giao dịch của khách hàng.

Đối với cơ quan hành chính có thẩm quyền, tổ chức tài chính phải báo cáo những giao dịch đáng ngờ.

Các Ngân hàng ở Nhật Bản có xu hướng triển khai hệ thống AML theo thứ tự các bước gồm: Lọc danh sách theo dõi; Hệ thống giám sát giao dịch; Và chấm điểm rủi ro.

Vì các tổ chức tài chính ở Nhật Bản coi trọng việc loại bỏ các thế lực phản xã hội (yakuza), nên phần lọc danh sách theo dõi được triển khai trước. Ngoài ra, khi có yêu cầu phải nộp báo cáo giao dịch đáng ngờ (STR), hệ thống giám sát và giao dịch sẽ được triển khai khởi đầu từ các ngân hàng có số lượng  giao dịch lớn, vì vậy đây là lý do tạo nên xu hướng triển khai theo thứ tự ở trên.

So với quốc tế nói chung và Nhật Bản nói riêng, hệ thống luật pháp về phòng chống rửa tiền (PCRT) tại Việt Nam hiện nay vẫn đang trong giai đoạn mới được triển khai. Trong vài năm gần đây, công tác PCRT tại các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam mới được chú ý tuy nhiên hiện vẫn thiếu các công cụ, hệ thống cũng như nguồn lực cần thiết để thực hiện hoạt động này.

Luật Phòng, chống rửa tiền của Việt Nam đã đi vào hoạt động, trong khi thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin vào phòng, chống rửa tiền tại các ngân hàng ở Việt Nam vẫn chưa đáp ứng đủ yêu cầu.

Chính vì vậy, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và hệ thống các ngân hàng thương mại (NHTM) đã chủ động phối hợp với Cơ quan Công an cùng ban, ngành chức năng tham mưu cho Chính phủ thực hiện nhiều biện pháp PCRT.

Cuối năm 2014, NHNN đã ban hành Thông tư 31/2014/TT-NHNN ngày 11/11/2014 có hiệu lực từ ngày 26/12/2014 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư số 35/2013/TT-NHNN ngày 31/12/2013 hướng dẫn thực hiện một số quy định về PCRT nhằm hướng dẫn đầy đủ và cụ thể hơn nữa các biện pháp PCRT.

Ngoài sửa đổi một số quy định về biện pháp đánh giá tăng cường đối với khách hàng có rủi ro cao, danh sách cá nhân nước ngoài có ảnh hưởng chính trị, báo cáo giao dịch chuyển tiền điện tử… Thông tư 31/2014/TT-NHNN còn bổ sung các quy định mới như: Phân công, kiểm toán và đào tạo, bồi dưỡng về PCRT và phòng, chống tài trợ khủng bố. Qua đó, giúp hệ thống ngân hàng nhận diện và kiểm soát và xử lý hành vi vi phạm trong lĩnh vực ngân hàng hiệu quả hơn.

Nguyễn Tuân