Đánh giá tình hình kinh tế - xã hội trong nhiệm kỳ 2011-2015, cả nước đã hiện đồng bộ các giải pháp để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô nhưng vẫn chưa ổn định. Bên cạnh đó, kinh tế phục hồi còn chậm, tăng trưởng chưa đạt chỉ tiêu đề ra.

Trong nhiệm kỳ 2011- 2015, cả nước đã thực hiện đồng bộ các giải pháp để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô; điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt và phối hợp tốt hơn với chính sách tài khóa. Đã cơ bản đảm bảo được các cân đối lớn của nền kinh tế. Tốc độ tăng giá tiêu dùng giảm mạnh, từ 18,13% năm 2011 xuống còn khoảng 5% vào năm 2015. Mặt bằng lãi suất giảm, phù hợp với với diễn biến lạm phát. Tỷ giá, thị trường ngoại hối ổn định. Khắc phục được cơ bản tình trạng đô- la hóa, vàng hóa. Niềm tin vào đồng tiền Việt Nam tăng lên. Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng khá cao, đạt bình quân khoảng  18%; tỉ trọng sản phẩm chế biến trong cơ cấu hàng xuất khẩu tăng mạnh. Cán cân thương mại được cải thiện; cán cân thanh toán quốc tế thặng khá cao. Dự trữ ngoại hối tăng, đạt mức cao nhất từ trước đến nay.

Quản lí ngân sách nhà nước được tăng cường. Đẩy mạnh chống thất thu, tiết kiệm chi, ưu tiên chi cho bảo đảm an sinh xã hội và phát triển con người. Huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển, tập trung vốn hoàn thành các công trình quan trọng, cấp bách và đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn. Nợ công, nợ nước ngoài của quốc gia trong giới hạn an toàn theo quy định của pháp luật. Cụ thể, tỷ lệ nợ công/ GDP vào cuối năm 2014 là 59,3%, nợ Chính phủ/ GDP là 47,1%, nợ được chính phủ bảo lãnh là 11,3%. Dự kiến đến cuối năm 2015, tỉ lệ nợ công/ GDP khoảng 62,3% (theo Nghị quyết của Quốc hội, đến năm 2015 nợ công không quá 65% GDP, nợ chính phủ không quá 50% GDP và nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50% GDP). Tăng cường quản lý thị trường, giá cả, bảo đảm cân đối cung- cầu các mặt hàng thiết yếu và đẩy mạnh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại.

Nhiệm kỳ 2011-2015, kinh tế vĩ mô dần được ổn định

Trong nhiệm kỳ 2011-2015, tăng trưởng kinh tế được duy trì ở mức hợp lý, từ năm 2013 dần phục hồi, năm sau cao hơn năm trước, chất lượng tăng trưởng được nâng lên.

Tốc độ tăng Tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân 5 năm đạt 5,82/năm. Quy mô và tiềm lực của nền kinh tế tiếp tục tăng lên, GDP năm 2015 đạt khoảng 204 tỉ USD, bình quân đầu người đạt khoảng 2.200 USD.

Sản xuất công nghiệp trong nhiệm kỳ qua từng bước đã được phục hồi; chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2014-2015 tăng lên 7,5%; tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong cơ cấu công nghiệp tăng mạnh. Khu vực nông nghiệp phát triển ổn định, giá trị sản xuất tăng bình quân 3,9%/năm; độ che phủ rừng đạt khoảng 42% vào năm 2015. Giá trị gia tăng khu vực dịch vụ tăng khá, đạt bình quân 6,5%/ năm. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng bình quân 14,7%/năm (loại trừ yếu tố giá tăng khoảng 6,5%). Tổng doanh thu từ khách du lịch tăng bình quân 21%/năm; khách quốc tế đạt khoảng 8,7 triêu lượt vào năm 2015.
Chất lượng tăng trưởng nhiều mặt được nâng lên, đóng góp của khoa học, công nghệ tăng, năng suất lao động tăng bình quân 3,8%; vốn đàu tư được sử dụng hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, trong dự thảo báo cáo văn kiện trình đại hội 12 của Đảng cũng chỉ ra, trong nhiệm kỳ 2011-2015, kinh tế vĩ mô vẫn chưa ổn định. Việc kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế chưa thực sự bền vững. Cân đối ngân sách nhà nước còn khó khăn; cơ cấu thu, chi ngân sách chưa phù hợp, chi thường xuyên tăng nhanh; bội chi ngân sách còn cao, chưa đạt mục tiêu giảm xuống còn 4,5%. Tuy vẫn bảo đảm trong giới hạn an toàn theo quy định nhưng nợ công tăng nhanh, áp lực trả nợ lớn; sử dụng vốn vay ở một số dự án kém hiệu quả. Đóng góp của khu vực kinh tế trong nước vào tăng trưởng xuất khẩu thấp. Chất lượng tín dụng chưa cao, xử lý nợ xấu còn gặp nhiều khó khăn. Thị trường vốn, chứng khoán, bất động sản phát triển chưa đồng bộ, phục hồi chậm và còn tiềm năng rủi ro.

Lắp ráp ô tô tại Việt Nam

Bên cạnh đó, kinh tế  phục hồi còn chậm, tăng trưởng chưa đạt chỉ tiêu đề ra; chất lượng tăng trưởng một số mặt còn thấp. Tăng trưởng GDP bình quân đạt 5,82%/ năm, thấp hơn 5 năm trước và chưa đạt chỉ tiêu đề ra. Khoảng cách phát triển so với các nước trong khu vực còn lớn. Sản xuất nông nghiệp hiệu quả chưa cao; công nghiệp và dịch vụ tăng thấp hơn giai đoạn trước. Tổng cầu tăng chậm, sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm còn nhiều khó khăn. Doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động còn lớn; nhiều doanh nghiệp khó tiếp cận vốn tín dụng. Số lượng doanh nghiệp trong nền kinh tế còn tăng chậm, nhiều doanh nghiệp hiệu quả hoạt động chưa cao; công nghiệp và dịch vụ tăng thấp hơn giai đoạn trước. Tổng cầu tăng chậm, sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm còn nhiều khó khăn. Doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động còn lớn; nhiều doanh nghiệp khó tiếp cận vốn tín dụng. Số lượng doanh nghiệp trong nền kinh tế tăng chậm, nhiều doanh nghiệp hiệu quả hoạt động chưa cao. Doanh nghiệp quy mô lớn còn ít. Chưa huy động được cao nhất các nguồn lực của khu vực tư nhân vào đầu tư phát triển. Việc sử dụng tài nguyên còn lãng phí, kém hiệu quả.

Chất lượng tăng trưởng một số mặt còn thấp, cải thiện còn chậm; công nghệ sản xuất phần lớn còn lạc hậu. Đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng còn hạn chế, hệ số sử dụng vốn (ICOR) còn cao. Năng lực cạnh tranh quốc gia chưa được cải thiện nhiều, nhất là về thể chế kinh tế, kết cấu hạ tầng và đối mới công nghệ.

ND