Những bại tướng dưới tay Võ Nguyên Giáp (3): William Westmoreland

Phan Sương

Cho đến lúc qua đời, vị đại tướng 4 sao của quân đội Mỹ vẫn không tin rằng mình từng thất bại tại chiến trường Việt Nam, nơi ông đã chỉ huy một lực lượng binh lính đông đảo nhất trong suốt cuộc chiến tranh ở Đông Dương.
Đại tướng William Westmoreland - Tổng tư lệnh quân đội Mỹ trong Cuộc chiến tranh Việt Nam (1964 - 1968)

William Westmoreland, sinh năm 1914 và qua đời năm 2005, trước khi tham gia vào cuộc chiến tranh tại miền Nam Việt Nam đã từng là một vị tướng lừng lẫy trong Thế chiến II cũng như tại cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950 – 1953).

Westmoreland bắt đầu tham gia cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam vào tháng 7 năm 1963. Lúc đó, Westmoreland là một trung tướng giữ chức Phó Tư lệnh Bộ chỉ huy Cố vấn quân sự Mỹ, dưới quyền của Đại tướng Paul Harkins. Đến tháng 8 năm 1964, ông thay thế tướng Paul Harkins và trở thành vị chỉ huy cấp cao nhất của quân đội Mỹ tại chiến trường Việt Nam.

Dấu ấn lớn nhất của vị tướng này tại chiến trường Việt Nam chính là chiến lược Chiến tranh Cục bộ trong giai đoạn 1965 – 1967. Cuộc chiến này đã sử dụng ưu thế về hỏa lực, công nghệ và quân số lính Mỹ nhằm dẹp bỏ Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam (MNVN). Đồng thời dùng không quân đánh phá miền Bắc nhằm bảo vệ chế độ Việt Nam cộng hòa, thiết lập ảnh hưởng lâu dài của Mỹ lên MNVN.  

Đối sách mà tướng Westmoreland đưa ra lúc đó là sử dụng chiến lược tìm và diệt, nhằm làm tiêu hao lực lượng của Quân Giải phóng trên mọi mặt trận. Để thực hiện chiến lược, tướng Westmoreland đã cho tiến hàng hàng loạt các cuộc hành quân lớn như Attelboro, Cedar Falls, Gadsden, Tucson và Junction City. Tuy nhiên, Quân Giải phóng MNVN, dưới sự chỉ huy của Tổng tư lệnh quân đội Võ Nguyên Giáp, đã có những sách lược đối phó hiệu quả. Quân Giải phóng không những đã phá vỡ chiến lược tìm và diệt mà ngược lại còn làm tiêu hao không ít lực lượng của quân Mỹ.

Đỉnh cao nhất của chiến lược tìm và diệt là cuộc hành quân Junction City.  Mỹ đã huy động một lực lượng khổng lồ của mình với sự tin tưởng sẽ đạt được mục đích tại chiến khu Dương Minh Châu (Tây Ninh).  Lực lượng này bao gồm 9 lữ đoàn bộ binh Mỹ, 1 lữ đoàn thuỷ quân lục chiến Sài Gòn. Ước tính quân số khoảng 45.000 và trên 1.000 xe tăng, xe bọc thép, hàng trăm khẩu pháo các loại, cùng nhiều máy bay.

Trong suốt nhiều ngày tiến hành cuộc hành quân, Mỹ đã không thể tìm ra được bóng dáng của bất cứ cơ sở chỉ huy của Quân Giải phóng nào trong khu vực càn quét. Chỉ sau vài cuộc hành quân, Mỹ quyết định rút quân và chấp nhận một thất bại ê chề tại miền Nam.

Ngày 15/5/1967, tướng Westmoreland đưa ra tuyên bố chấm dứt cuộc hành quân. Hãng tin AFP của Pháp lúc đó từng đưa tin và bình luận cho rằng: “Đó là cuộc hành quân có nhiều tham vọng nhất trong cuộc chiến, nhưng lại nhận kết quả thật đáng buồn…Đài phát thanh Mặt trận Dân tộc giải phóng vẫn tiếp tục hoạt động, mặc dù một trong những mục tiêu của cuộc hành quân là dập tắt nó...”

Cho đến nay, những người còn quan tâm đến lịch sử cuộc chiến của Mỹ tại Việt Nam vẫn đang tranh cãi về nhiệm vụ của tướng William Westmoreland. Có người cho rằng ông đã hoàn thành trách nhiệm của mình trong bối cảnh cuộc chiến quá khắc nghiệt. Tuy nhiên, nhiều người lại cho rằng ông Westmoreland đã thảm bại hoàn toàn trong giai đoạn 1968 – 1972, đặc biệt là trong Cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968 của Quân Giải phóng Việt Nam.

Cuộc tấn công Tết Mậu Thân có thể xem là thất bại nặng nề của tướng Westmoreland tại chiến trường MNVN. Ông đã không thể lường được sự phức tạp của tình hình cũng như không thể tin được chiến lược chiến tranh du kích của Quân Giải phóng lại có thể ngăn chặn được đội quân mạnh nhất thế giới.

Phong trào phản chiến bùng phát ở Mỹ kể từ sau Cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968.

Trong suốt quá trình làm Tổng Tư lệnh quân đội Mỹ tại chiến trường Việt Nam, tướng Westmoreland đã liên tục xin tăng quân với hy vọng nhanh chóng dập tắt sự phản kháng của Quân Giải phóng MNVN, luôn khẳng định với dân chúng Mỹ rằng ông sẽ nhanh chóng có được chiến thắng như ông đã từng làm được ở Thế chiến II cũng như ở bán đảo Triều Tiên trước đó.

Tháng 7/1968, sau những chỉ trích nặng nề từ dư luận trong nước, cũng như những yêu cầu tăng quân liên tục mà chính quyền của Tổng thống Lyndon B. Johnson không thể đáp ứng, ông đã buộc phải rời khỏi chiến trường Việt Nam, thay thế ông là tướng Creighton Abrahams. Khi ông rời khỏi ghế Tổng tư lệnh, quân số lính Mỹ tại Việt Nam đạt đến con số nửa triệu, số binh nhiều nhất mà Mỹ đã mang đi tới các chiến trường trong lịch sử.

Ông đã trở về Mỹ sau đó, làm Tham mưu trưởng Lục quân cho đến năm 1972, kết thúc binh nghiệp và tham gia chính trường. Ông cũng không giành được chiến thắng nào ở chính trường, tuy nhiên, lại trở thành một nhà diễn giả về chiến tranh Việt Nam được chú ý ở khắp nơi trên đất Mỹ. Sau này, ông cho xuất bản cuốn hồi ký “Tường trình của một quân nhân” kể về cuộc đời binh nghiệp của mình. Cuốn hồi ký này đã gây ra nhiều cuộc tranh luận về trách nhiệm của ông, về sự thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam.

Ông là một người khá bảo thủ khi không chấp nhận việc mình đã thất bại tại chiến trường MNVN. Trong các cuộc nói chuyện cũng như trong hồi ký của mình, tướng Westmoreland vẫn bảo vệ cho chiến lược mà ông tin là nếu được thực hiện đầy đủ sẽ đem lại một kết quả khác cho chiến tranh Đông Dương.

Ông chỉ trích khả năng của quân đội Việt Nam Cộng hòa trong giai đoạn ông cầm quân, và thái độ do dự, không quyết đoán của Tổng thống Johnson khi ông đề nghị mở rộng chiến tranh sang Lào, Campuchia và miền Bắc Việt Nam. Ông cũng khá cay đắng khi nói về giai đoạn ông tham chiến ở Việt Nam.  Trong một cuộc phỏng vấn năm 1982, tướng Westmoreland tự nhận rằng: “Ðịnh mệnh đã đưa tôi phục vụ 4 năm ở vị trí Tư lệnh quân đội trong một cuộc chiến mất lòng dân nhất của quốc gia này”.

Tuy vậy, ông không thể phủ nhận sức mạnh của Quân Giải phóng MNVN, đặc biệt là ông rất tôn trọng đối thủ của mình – Đại tướng Võ Nguyên Giáp, lúc bấy giờ là Bộ trưởng Quốc phòng và là Tổng tư lệnh Quân đội Việt Nam. Ông từng nói: “Những phẩm chất làm nên một nhà lãnh đạo quân sự vĩ đại là khả năng đưa ra quyết định, sức mạnh tinh thần, khả năng tập trung và một trí tuệ hội tụ được những phẩm chất này. Tướng Giáp đã sở hữu tất cả”.

Ông qua đời năm 2005 tại quê nhà South California, hưởng thọ 91 tuổi.

cùng chuyên mục
Kéo xuống để xem tiếp nội dung
Xem thêm trên infonet