Những cây cổ thụ dọc đường Tây Ninh

Trên những nẻo đường Tây Ninh, liệu lữ khách có muốn tìm những cây cổ thụ? Hỏi thế, vì tiền thân của vùng đất đầy nắng này vốn là miền rừng Quang Hoá.

Năm 1836, mùa thu tháng 9 các quan Kinh lược sứ của triều đình Minh Mạng đã hoàn thành sự nghiệp khảo sát điền địa vùng cương thổ phía Nam.

Cây trôm (đã chết) và bên phải là cụm duối cổ thụ đặt miếu ông Hổ, tại miếu Ngũ Hành KP5, phường 1.

Vua mới ban chỉ dụ đặt phủ Tây Ninh gồm hai huyện Tân Ninh và Quang Hoá. Đọc những trang sách “Đại Nam nhất thống chí” thì cũng khó hình dung, vì toàn những cái tên cũ xưa như Cửu An, Kiến Hưng, Định Tường…

Thôi cứ tạm hình dung một cách gần đúng rằng Quang Hoá xưa gồm các huyện Gò Dầu, Trảng Bàng, Bến Cầu của tỉnh Tây Ninh hiện nay. Phần còn lại thuộc vào huyện Tân Ninh.

Vào khoảng năm 1820, Trịnh Hoài Đức đã mô tả trong sách “Gia Định thành thông chí” về rừng Quang Hoá là: “Gò đồi trùng điệp, rừng rú liền dăng, cây cối cao lớn chọc trời, rậm rạp hàng vài trăm dặm, thợ xẻ, thợ mộc dựng lều cắm trại để đẵn gỗ hoặc lấy dầu rái, nhựa trám, mây song, mây nước, cùng là săn bắn thú rừng, mối lợi rất rộng…”.

Về vị trí, tác giả chỉ mới ghi rằng: “Rừng Quang Hoá ở về phía tây huyện Quang Hoá” nhưng phạm vi chắc chắn vượt ra ngoài địa giới huyện, dài rộng hơn nhiều vì “rậm rạp hàng vài trăm dặm”. Trong khi huyện Quang Hoá chỉ có: “đông tây cách nhau 80 dặm, nam bắc cách nhau 70 dặm” (Đại Nam nhất thống chí).

Do vậy, rừng Quang Hoá trên thực tế ăn lan sang cả phía Tây huyện Tân Ninh (nay là các huyện Tân Biên, Châu Thành); thậm chí sang cả nước bạn Campuchia. Đến tận cuối những năm 50 của thế kỷ trước, bà Trần Lệ Xuân, em dâu của Ngô Đình Diệm mở đường từ quốc lộ 22B sang phía huyện Tân Châu ngày nay để khai thác sản vật rừng.

Dân địa phương còn gọi là đường lộ ủi Trần Lệ Xuân, nay là đường 795 nối hai thị trấn Tân Biên, Tân Châu. Dấu vết rừng Quang Hoá đến nay, chắc chắn phải kể đến trước tiên là Vườn quốc gia Lò Gò- Xa Mát, kể cả rừng Chàng Riệc là nơi có các di tích Bộ chỉ huy cách mạng thời kháng chiến. Sau nữa là các khu rừng hiện còn ở Hoà Thạnh, Hoà Hội, Ninh Điền thuộc Châu Thành và rừng Nhum thuộc huyện Bến Cầu.

Ngoại trừ rừng Nhum vừa kể, thì người ta vẫn còn được chứng kiến hình bóng rừng Quang Hoá xưa qua những vùng rừng còn lại, đặc biệt là rừng Chàng Riệc và Lò Gò - Xa Mát. Dọc đường vành đai biên giới xuyên qua những cánh rừng ấy, ta vẫn còn thấy “rừng rú liền dăng” và nhiều nơi vẫn còn các loài cây “cao lớn chọc trời”.

Ví dụ cây mít nài ở sau nhà bia Ban Tổ chức Trung ương Cục trên rừng Chàng Riệc có thân lớn ba người ôm không giáp. Rừng Lò Gò vẫn còn những cây dầu, vên vên có đường kính thân từ 1,2 đến 1,4 mét, như cây dầu ở gần cầu khỉ bắc qua suối Xa Mát…

Nhưng đạt mức kỷ lục thì chỉ còn một cây dầu có đường kính 2 mét nằm ở Trảng Sến trong vùng lõi của rừng. Cũng cần nói thêm là những dãy rừng này đều đã bị tàn phá nặng nề trong thời kháng chiến chống Mỹ, bởi bom bầy, pháo chụp và đặc biệt là chất độc khai quang.

Ở đây còn là nguyên vẹn những cánh rừng. Như Lò Gò- Xa Mát cũng còn tới 18.000 ha vùng lõi. Còn cây đơn lẻ của rừng Quang Hoá? Có lẽ vẫn còn nhiều tuy rải rác ở một vài nơi thường có sự liên quan đến tín ngưỡng dân gian như đình, miếu, đền chùa…

Như đình Gia Lộc có cả rừng hàng trăm cây dầu, cây sao cổ thụ. Đình An Hoà còn ít cây hơn nhưng vẫn có những thân cây đường kính cỡ bánh xe bò. Lại nhớ và tiếc cho đình An Tịnh- có gốc tích xa xưa nhất xứ nhưng lại chẳng còn cây cổ thụ nào. Bên kia sông Vàm Cỏ Đông, các xã cánh Tây Trảng Bàng cũng còn những phần sót lại của rừng Quang Hoá.

Cây quéo đình Phước Chỉ.

Như rừng cây duối ở dinh Ông, xã An Thạnh, Bến Cầu có đến hàng trăm cây vô hạn tuổi, bởi cây già gục xuống ngã ngang thì từ những đoạn thân mục rã ấy lại trồi lên hàng chục cây duối mới, cứ thế nối tiếp nhau chẳng biết đã bao đời. Ở các xã Phước Chỉ, Phước Lưu, Bình Thạnh, nơi nào cũng còn những cây cổ thụ trên cụm rừng sót gắn liền với các di tích đền tháp cổ niên đại từ hơn 1.000 năm trước.

Nhưng “cao lớn chọc trời” thì có lẽ chỉ còn ở đình Phước Chỉ với cụm rừng có nhiều cây quéo cổ. Cây lớn lừng lững cao tới hơn 30 mét, đường kính thân đều hơn 1 mét, thẳng tắp vươn lên như muốn níu mây trời. Trảng Bàng còn có những ngôi miếu cổ; có ngôi mang tên bàu (Bàu Rong - Gia Lộc) nhưng lại có cây da cổ thụ cực lớn và um tùm nên thường có chim lạ về trú ngụ. Lại có miếu vẫn mang tên cây mà cây đã chẳng còn, như miếu Cây Sao- nơi từng có cây sao lớn đường kính thân 1,6 mét (vừa đúng bằng vành bánh xe bò).

Lên tới Gò Dầu, gặp cụm rừng dầu vẫn lừng lững cao, to nhất chính là ở đình Thanh Phước nay đã thuộc về giữa lòng Thị trấn. Quá lên mươi cây số nữa là rẽ vào gò miếu Cao Sơn có chùa Cao Sơn ngự giữa đỉnh gò.

Cây cối không lớn nhưng rậm rạp và có nguồn gốc xa xưa nhất là thời kỳ đá mới từ 2.500- 3.000 năm trước. Có khi ta còn vô tình tìm được một lưỡi rìu đá của thời ấy dưới gốc cây.

Còn rất nhiều đình, miếu xưa ở miền Quang Hoá vẫn còn những cây da trăm tuổi. Như ở đình Thạnh Đức, Cẩm Long (Cẩm Giang), hay miếu bà Thanh Phước, huyện Gò Dầu, bên Bến Cầu thì là đình Long Chữ. Còn đình Long Giang thì còn cây duối cổ thay vì cây đa.

Tiếc thay chưa có đơn vị hoặc cá nhân nào chăm lo sức khoẻ cho cây, dù “các cụ” ấy đều là bậc lão làng trên trăm tuổi. Số phận các “cụ” cây thuộc hàng di sản ở Tây Ninh hiện nay hầu như chỉ phụ thuộc “mệnh trời”.

Theo TRẦN VŨ/ Tây Ninh online

cùng chuyên mục
Kéo xuống để xem tiếp nội dung
Xem thêm trên infonet