Những người che giấu cho 2 tử từ bỏ trốn, liệu có phạm tội?

Tiến Anh

Những người liên quan, dù có biết rõ 2 tử tù bỏ trốn mà đã cung cấp tiền bạc, cho mượn xe máy hoặc ở cùng đối tượng trong hành trình bỏ chạy trốn thì cũng chưa thỏa mãn dấu hiệu tội phạm về tội che giấu tội phạm hoặc không tố giác tội phạm…

Liên quan đến việc 2 tử tù bỏ trốn tại trại tạm giam T16 - Bộ Công an, PV Infonet có cuộc trao đổi với luật sư Nguyễn Anh Thơm (Trưởng VPLS Nguyễn Anh – Đoàn Luật sư TP Hà Nội) để hiểu rõ hơn về những người giúp sức cho 2 tử tù này bỏ trốn đã phạm vào tội gì?

Trại tạm giam T16 - Bộ Công an nơi 2 tử tù trốn trại.

Luật sư Nguyễn Anh Thơm cho biết: “Tội che giấu và không tố giác tội phạm là những hành vi xâm phạm hành vi bỏ trốn của đối tượng Nguyễn Văn Tình và Lê Văn Thọ đã cấu thành tội trốn khỏi nơi giam giữ. Tội phạm và hình phạt được qui định tại Khoản 1 Điều 311 Bộ luật Hình sự (BLHS) là có căn cứ”.

Ngoài ra, luật sư Nguyễn Anh Thơm cũng thông tin: “Trong vụ án này, xét hành vi của 2 đối tượng đã phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, nên không thỏa mãn dấu hiệu phạm tội có tổ chức.

Mặt khác, quá trình bỏ trốn khỏi buồng giam không có hành vi dùng vũ lực đối với người canh gác. Do vậy, quan điểm của luật sư, hành vi phạm tội của các đối tượng không thuộc trường hợp phạm tội theo Khoản 2 Điều 311 BLHS”.

Bên cạnh đó, luật sư Nguyễn Anh Thơm cũng nhận định: “Đối với hành vi của những người liên quan, dù có biết rõ 2 tử tù bỏ trốn mà đã cung cấp tiền bạc, cho mượn xe máy hoặc ở cùng đối tượng trong hành trình bỏ chạy trốn thì cũng chưa thỏa mãn dấu hiệu tội phạm về tội che giấu tội phạm hoặc không tố giác tội phạm theo qui định tại Điều 313 và 314 BLHS”.

Tuy nhiên, luật sư Nguyễn Anh Thơm cũng chia sẻ: “Nếu xác định người cung cấp phương tiện cho 2 đối tượng biết rõ sau khi bỏ trốn tại trại giam mà không thỏa mãn dấu hiệu tội phạm về tội che giấu tội phạm và tội không tố giác tội phạm theo Điều 313 và 314 BLHS.

Những người này thì cần thiết phải xử lý bằng biện pháp hành chính theo Nghị định 167/2013 với mức phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng về hành vi “cản trở hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức”.

Điều 311. Tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn giải, đang bị xét xử

1. Người nào đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử mà bỏ trốn, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng vũ lực đối với người canh gác hoặc người dẫn giải.

Điều 313. Tội che giấu tội phạm

1. Người nào không hứa hẹn trước mà che giấu một trong các tội phạm quy định tại các điều sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm:

- Các điều từ Điều 78 đến Điều 91 về các tội xâm phạm an ninh quốc gia;

………………………………………………………………………

- Điều 311 khoản 2 (tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn giải, đang bị xét xử)

Điều 314. Tội không tố giác tội phạm

1. Người nào biết rõ một trong các tội phạm được quy định tại Điều 313 của Bộ luật này đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về việc không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng theo quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.

cùng chuyên mục
Kéo xuống để xem tiếp nội dung
Xem thêm trên infonet