Chính sách xoay trục sang Đông Nam Á của Nhât Bản mà cụ thể là đưa quân đội nước này hiện diện thường trực ở Biển Đông nhằm tăng cường an ninh khu vực đang vấp phải những rào cản từ yếu tố địa lý, dư luận trong nước và chiến lược quốc phòng.

Trong bài phát biểu hồi tháng 9/2013, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe từng nhấn mạnh: “Nhật Bản sẽ đóng góp một cách chủ động hơn bao giờ hết vào nền an ninh và ổn định trong khu vực cũng như trên thế giới”. Đây cũng chính là trọng tâm của chiến lược mang tên “Chủ động đóng góp cho hòa bình” nhằm đưa trục hàng hải của Nhật Bản hướng sang khu vực Đông Nam Á. 

Trên thực tế, Nhật Bản đang ngày một vươn xa hơn tới Ấn Độ Dương và vùng Carribe song có lẽ Đông Nam Á mới là nơi Tokyo triển khai nhiều chương trình hỗ trợ năng lực hàng hải nhất. Cụ thể, Nhật Bản đã cam kết hỗ trợ các tàu tuần tra cho hải quân Việt Nam và Philippines, hai quốc gia đang có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc trên Biển Đông. 

Chính sách xoay trục sang Đông Nam Á của Nhât Bản đang vấp phải những bất lợi từ yếu tố địa lý. 

Ngay cả trong bài phỏng vấn hồi tháng 10/2013, Thủ tướng Abe từng nhấn mạnh các nhà lãnh đạo Đông Nam Á hy vọng Nhật Bản không chỉ đóng vài trò là đầu tàu trên mặt trận kinh tế mà còn trong lĩnh vực an ninh ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Bởi chính Tokyo cũng đang có những bất đồng chính trị với Bắc Kinh liên quan tới quyền kiểm soát quần đảo Senkaku/Điếu Ngư trên biển Hoa Đông. 

Đông Nam Á ủng hộ Nhật Bản?

Chia sẻ trên tạp chí The Diplomat, ông Koh Swee Lean Collin, nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Chiến lược và Quốc phòng thuộc Trường quốc tế S. Rajaratnam tại Đại học Công nghệ Nanyang, Singapore cho rằng sự ủng hộ của các nước trong khu vực về việc Nhật Bản đóng vai trò chủ động hơn trong lĩnh vực an ninh ở Đông Nam Á gần như đạt tuyệt đối. 

Cụ thể, một quan chức chính phủ Indonesia từng tuyên bố: "Việc Nhật Bản tăng cường vai trò trong khu vực là điều hoàn toàn tự nhiên. Khi nền kinh tế Nhật Bản tăng trưởng mạnh hơn, họ sẽ đóng góp nhiều hơn cho khu vực". Ngay cả Campuchia, một đồng minh thân thiết của Trung Quốc lâu nay, cũng thừa nhận tầm quan trọng của Nhật Bản trong lĩnh vực an ninh. 

Ngoài ra, hồi tháng 11/2013, Nhật Bản và các quốc gia thành viên ASEAN đã đưa ra một tuyên bố chung kêu gọi tăng cường hợp tác an ninh hàng hải cũng như thúc đẩy quyền tự do hàng hải và hàng không. Tuyên bố chung được đưa ra không lâu sau khi Trung Quốc đơn phương thiết lập vùng nhận diện phòng không trên biển Hoa Đông. Thậm chí, cam kết này một lần nữa được nhắc lại tại Hội nghị Thứ trưởng Quốc phòng ASEAN - Nhật Bản lần thứ 6 hồi tháng 10/2014. 

Có thể nói, việc Nhật Bản chủ động đóng góp duy trì nền an ninh ở Đông Nam Á là hoàn toàn dễ hiểu bởi lâu nay, Tokyo phụ thuộc khá lớn vào các tuyến hàng hải vận chuyển năng lượng ở khu vực này. Ngoài ra, kể từ khi rạn nứt quan hệ với Trung Quốc vào năm 2012, Nhật Bản đã chuyển hướng đầu tư sang Đông Nam Á. Như trong năm 2013, các khoản đầu tư hợp tác của Nhật Bản trong khu vực đã cao gấp 3 lần so với  ở Trung Quốc. Đặc biệt, khu vực Đông Nam Á còn là nơi thử nghiệm đầy tiềm năng đối với ngành công nghiệp xuất khẩu vũ khí của Nhật Bản, liên quan tới chiến lược hỗ trợ tăng cường an ninh hàng hải. 

Do đó, không có gì là khó hiểu khi trục hàng hải của Nhật Bản xoay sang khu vực Đông Nam Á. Trong số những sáng kiến được đưa ra, Tokyo đã ký kết hàng loạt thỏa thuận hợp tác và trao đổi an ninh hàng hải với các nước trong khu vực như xây dựng chương trình đào tạo cho lực lượng bảo vệ bờ biển Indonesia và Malaysia.

Cuộc tập trận chung của lực lượng bảo vệ bờ biển Nhật Bản - Philippines. 

Hành động cụ thể

Dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Abe, Nhật Bản đang thể hiện vai trò “ngày càng chủ động” của mình. Cụ thể, hồi tháng Hai, Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản (SDF) đưa ra tuyên bố cân nhắc triển khai máy bay và tàu tới tuần tra trên Biển Đông cùng với Mỹ. 

Trong ít nhất hai sự kiện hồi tháng Năm và Sáu, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Gen Nakatani cho hay Tokyo sẽ cân nhắc triển khai hoạt động tuần tra của SDF trên Biển Đông. Và sau khi điều máy bay tham gia cuộc diễn tập cứu hộ và cứu nạn trên biển với quân đội Philippines hồi tháng Sáu, Tổng tham mưu trưởng SDF, Đô đốc Katsutoshi Kawano cũng đã thổ lộ khả năng SDF tham gia hoạt động tuần tra trên Biển Đông trong tương lai. 

Thậm chí, không lâu sau sự kiện Hải quân Mỹ điều tàu chiến áp sát hòn đảo nhân tạo mà Trung Quốc xây dựng trái phép trên bãi Subi thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam hồi cuối tháng 10, tàu Nhật Bản cũng đã có chuyến thăm tới căn cứ quân sự Cam Ranh của Việt Nam. Điều này cho thấy khả năng SDF sẽ hiện diện thường xuyên hơn ở Đông Nam Á trong bối cảnh Trung Quốc không ngừng có những hành động ngang ngược và làm gia tăng căng thẳng trên Biển Đông. Hồi tháng trước, phát biểu trước Tổng thống Mỹ Barack Obama, Thủ tướng Abe còn khẳng định Tokyo sẽ nghiên cứu tính khả thi khi đưa SDF hoạt động trên Biển Đông. 

Tuy nhiên, trước tuyên bố Nhật Bản không tham gia chương trình đảm bảo tự do hàng hải của Mỹ (FONOPS), Chánh văn phòng Nội các Nhật Bản Yoshihide Suga nhấn mạnh: "Hiện tại, SDF không thể liên tục tiến hành các hoạt động tuần tra trên Biển Đông và Tokyo cũng chưa có kế hoạch cụ thể. Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu một cách thận trọng về những tác động của tình hình Biển Đông đối với nền an ninh quốc gia".  

Song câu hỏi lớn nhất đặt ra là liệu Thủ tướng Abe có thể tăng cường "trục hàng hải" sang Đông Nam Á bằng cách tăng cường sự hiện diện của SDF trong khu vực. Bởi khả năng những áp lực trong nước cùng chiến lược và chính sách quân sự sẽ cản trở kế hoạch của nhà lãnh đạo Nhật Bản. 

Dư luận trong nước phản đối

Ông Abe vẫn đang phải đối mặt với sự phản đối mạnh mẽ của dư luận trong nước liên quan tới đạo luật phòng vệ tập thể. Theo một khảo sát qua điện thoại trên toàn quốc do tờ Kyodo News tiến hành hồi tháng 8/2014, 84% số người được hỏi cho rằng chính quyền của Thủ tướng Abe vẫn chưa đưa ra được lời giải thích đầy đủ về đạo luật phòng vệ tập thể.

Cuộc khảo sát do chính phủ Nhật Bản tiến hành hồi tháng Một năm nay cho thấy chỉ có 25,9% số người tham gia khảo sát ủng hộ việc SDF nên đóng vai trò tích cực hơn trên trường quốc tế. Đáng nói, tỷ lệ này đã giảm hơn 2% so với kết quả khảo sát năm 2012.

Thậm chí, theo một cuộc thăm dò hồi tháng Chín của tờ Asahi Shimbun , 68% số người được hỏi cho rằng dự luật an ninh mới cho phép SDF mở rộng hoạt động ở nước ngoài là điều không cần thiết. Cuộc khảo sát hồi tháng 10 của tờ Mainichi Shimbun cũng đưa ra kết quả 57% phản đối luật an ninh mới và chỉ có 31% ủng hộ. 

Trong khi đó, các cuộc thăm dò mới nhất cho thấy sự ủng hộ của dư luận Nhật Bản đối với Thủ tướng Abe đã tăng trở lại, nhưng lại xuất phát từ cam kết của nhà lãnh đạo trong việc tập trung phát triển kinh tế trước cuộc bầu cử Thượng viện vào năm tới. Điều này đồng nghĩa với việc trước sự ủng hộ “phập phù” của dư luận trong nước, ông Abe cần có những điều chỉnh thận trọng nếu muốn hiện thực hóa kế hoạch đưa SDF đóng vai trò chủ động hơn ở Đông Nam Á.

Quan hệ Nhật - Trung căng thẳng liên quan tới tranh chấp chủ quyền quần đảo Senkaku/Điếu Ngư trên biển Hoa Đông. 

Cạnh tranh với Trung Quốc

Trọng tâm an ninh của Nhật Bản là vùng biển Hoa Đông, biển Nhật Bản và các vùng biển ở Tây Thái Bình Dương. Trong đó, tranh chấp chủ quyền quần đảo Senkaku/Điếu Ngư là cái gai trong quan hệ giữa Tokyo - Bắc Kinh. Khi mà Trung Quốc không chỉ điều tàu khảo sát biển dân sự mà còn điều cả tàu thu thập thông tin tình báo quân sự tới gần hòn đảo tranh chấp. Chưa dừng lại, Bắc Kinh còn tiến hành khai thác khí hydrocarbon ở ngay trên biển Hoa Đông. Chiến thuật của Trung Quốc là nhằm đưa sự quan tâm của Nhật Bản quay trở lại biển Hoa Đông thay vì Biển Đông.

Ngay cả khi không nhắc tới những tranh chấp trên biển Hoa Đông, các nhà hoạch định chính sách an ninh của Nhật Bản cũng có đủ lý do để lo lắng về động thái tăng cường sức mạnh quân sự của Trung Quốc ở khu vực Tây Thái Bình Dương.Đây là lý do khiến SDF để ý sát sao những hoạt động quân sự cả trên không và trên biển của Bắc Kinh qua eo biển quốc tế Miyako.

Nga – Trung liên thủ

Nga cũng hiện là một trong những thách thức an ninh lớn khiến Nhật Bản đau đầu tìm cách đối phó trong bối cảnh hai nước tranh chấp quần đảo Kuril. Thậm chí, nhiều bằng chứng cho thấy Nga đang đẩy mạnh xây dựng năng lực quân sự trên hòn đảo này. Và không ít lần máy bay quân sự Nga được cho đã xâm phạm không phận của Nhật Bản ở ngoài khơi đảo Hokkaido.

Nhưng trên hết, Tokyo đang đối mặt với khả năng liên thủ giữa quân đội Trung Quốc và Nga khi mà hai nước này từng tổ chức cuộc tập trận chung hải quân có quy mô lớn nhất từ trước tới nay trên biển Hoa Đông và biển Nhật Bản. Mối đe dọa từ lực lượng tên lửa và hạt nhân của Triều Tiên cũng khiến Nhật Bản không khỏi lo lắng.  

Do đó, ngoài việc hoạt động như một đối tác toàn diện của Mỹ, Nhật Bản cũng cần chủ động tìm kiếm sự ủng hộ chắc chắn từ các nước trong khu vực Đông Nam Á. Và chiến lược xây dựng năng lực cho SDF hiện thời, vốn nằm trong “Đường lối chỉ đạo chương trình phòng thủ quốc gia” được Nhật Bản công bố hồi tháng 12/2013, cũng chính là nhắm tới bảo vệ các hòn đảo xa xôi nằm ở vùng tây nam bao gồm quần đảo Senkaku/Điếu Ngư. 

Mở rộng năng lực cho SDF?

Mở rộng năng lực của SDF tại Biển Đông dường như không khả thi bởi xét về mặt địa lý, khu vực này nằm cách xa Nhật Bản. Ngay cả căn cứ không quân Naha thuộc tỉnh Okinawa, được xem là khu vực gần nhất so với Biển Đông cũng cách xa 2.000 km. 

Một quan chức cấp cao của SDF cũng từng thừa nhận rằng các máy bay Nhật Bản có thể bay qua lại giữa căn cứ Naha và Biển Đông nhưng khó có thể hiện diện thường xuyên để thực hiện các hoạt động tuần tra. 

Do đó, chính sách "Chủ động đóng góp cho hòa bình"  ở khu vực Đông Nam Á của Thủ tướng Abe sẽ tiếp tục chịu tác động lớn từ những cân nhắc chính trị trong nước và chiến lược hướng SDF tập trung năng lực phòng thủ quốc gia thay vì những vùng biển xa xôi như ở Đông Nam Á. 

Nội dung được thực hiện qua tham khảo nguồn tin The Diplomat, một tạp chí có trụ sở ở Tokyo, chuyên về chính trị, văn hóa và xã hội tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. 

MINH THU (lược dịch)