Khuôn khổ pháp lý đầy đủ, chặt chẽ; đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng và công nghệ cao... là những yếu tố then chốt để đảm bảo an toàn cho điện hạt nhân

Xây dựng khuôn khổ pháp lý đầy đủ, chặt chẽ

Việt Nam đã có Luật Năng lượng Nguyên tử, được Quốc hội thông qua vào ngày 3/6/2008 và chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2009. Sau đó, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định 70/2010/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Năng lượng Nguyên tử về nhà máy điện hạt nhân. Trên cơ sở đó, Bộ KH&CN đã ban hành thông tư số 28/2011/TT-BKHCN Quy định về yêu cầu an toàn hạt nhân đối với địa điểm nhà máy điện hạt nhân và thông tư số 30/2012/TT-BKHCN Quy định về yêu cầu an toàn hạt nhân đối với thiết kế nhà máy điện hạt nhân… Đây là những văn bản cơ bản đầu tiên cho chương trình điện hạt nhân Việt Nam, nhưng bản thân nó vẫn chưa bao hàm đầy đủ những quy phạm, quy chuẩn cần thiết cho hoạt động của nhà máy điện hạt nhân theo thông lệ quốc tế.

Nhiều câu hỏi liên quan vấn đề an toàn đã đặt ra cho những người đứng đầu các cơ quan có trọng trách với Dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của Việt Nam, trong khi các văn bản pháp lý trong lĩnh vực hệ trọng này cho đến nay vẫn còn những bất cập. Về cơ chế giám sát, vấn đề được đặt ra từ sau sự cố Fukushima nhưng đến nay chưa được cải thiện bao nhiêu.

Liên quan đến vấn đề này, TS. Vương Hữu Tấn - Cục trưởng Cục An toàn Bức xạ và Hạt nhân (Bộ Khoa học & Công nghệ) nói có 2 yếu tố: Chủ đầu tư phải đủ năng lực để quản lý, đảm bảo an toàn cho nhà máy và cơ quan quản lý, hay còn gọi là cơ quan pháp quy phải thực hiện tốt chức năng giám sát. Nhưng luật Việt Nam hiện vẫn chưa có quy định rõ ràng, hiệu quả cho cơ quan pháp quy với chức năng thanh, kiểm tra tính an toàn của nhà máy. Cạnh đó, việc cấp phép hiện nay chia quá nhiều đầu mối: cấp phép xây dựng do Bộ Khoa học & Công nghệ, còn cấp phép vận hành do Bộ Công Thương. Trong khi đó, Bộ Công Thương lại là cơ quan chủ quản, điều này vi phạm nguyên tắc độc lập trong vấn đề quản lý an toàn quốc tế.

Trong quá trình nghiên cứu sửa đổi Luật Năng lượng Nguyên tử, nước ta cũng đã nghiên cứu một mô hình quản lý giám sát về điện hạt nhân, đảm bảo các quyết định không bị chi phối bởi bất kỳ điều gì, nếu nhà máy không đảm bảo an toàn sẽ không được vận hành. TS. Vương Hữu Tấn cho rằng, còn nhiều việc phải giải quyết về mặt quy phạm pháp lý an toàn hạt nhân liên quan đến nhà máy điện hạt nhân, đặc biệt sau những bài học kinh nghiệm xương máu từ thảm hoạ Fukushima. Đối với điện hạt nhân, không an toàn, không được vận hành. Thời gian dành cho các cấp, các ngành, những người được giao phó trọng trách xây dựng nền công nghiệp điện hạt nhân của nước ta còn lại rất ít.

Theo TS. Lê Văn Hồng, việc xây dựng khuôn khổ pháp lý bao gồm một hệ thống văn bản quy phạm về điện hạt nhân đầy đủ, toàn diện và nghiêm ngặt cần một quãng thời gian dài và được tiến hành cẩn trọng từng bước một. Việc có được một hệ thống văn bản như vậy cũng phản ánh xác thực văn hóa an toàn của điện hạt nhân và là cơ sở để văn hóa an toàn đó được thực thi.

Chọn lò phản ứng thế hệ ba cộng

Điện hạt nhân có nhiều ưu điểm so với các loại năng lượng khác, song bản thân nó cũng ẩn chứa nhiều mối nguy hiểm nếu để xảy ra sự cố như trường hợp với nhà máy Three Mile Island (Mỹ, năm 1979), Chernobyl (Ukraina, 1986) và gần đây là Fukushima (Nhật Bản, 2011). Nhìn lại ba tai nạn này có thể thấy, lò phản ứng tại các nhà máy đều là những lò thế hệ cũ, áp dụng công nghệ lạc hậu: Three Mile Island, Chernobyl đều sử dụng lò thế hệ đầu hoặc giai đoạn đầu của thế hệ thứ hai; còn Fukushima là lò nước sôi (BWR) thế hệ ban đầu được thiết kế từ những năm 1960 và xây dựng vào những năm 1970.

Cải tiến mới của lò phản ứng thế hệ 3+ là trong những thiết kế mới nhất đã được bổ sung tới bốn hệ thống an toàn để phòng trường hợp một hệ thống gặp sự cố tác động đến hệ thống khác thì vẫn còn hệ thống cuối thực hiện chức năng an toàn.  TS. Lê Văn Hồng - Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam trao đổi hai vấn đề với những lò phản ứng này. Thứ nhất, hệ thống an toàn chủ yếu là an toàn chủ động, chỉ hoạt động khi được tiếp năng lượng, hoặc có sự tác động của con người. Thứ hai, thiết kế lò phản ứng tương ứng với những quy chuẩn an toàn giai đoạn đó, thấp hơn nhiều so với những tiêu chuẩn hiện nay.

Để giảm thiểu những mối nguy hiểm có thể xảy ra, công nghệ thiết kế và vận hành lò phản ứng hạt nhân ngày càng được hoàn thiện nhằm đảm bảo các phản ứng phân hạch hạt nhân diễn ra an toàn hơn, giảm thiểu khả năng nóng chảy vùng hoạt và giảm phát thải phóng xạ với những quy chuẩn an toàn không ngừng được nâng cao, ví dụ theo yêu cầu hiện nay, mức độ dư thừa trong hệ thống an toàn được đòi hỏi ở mức cao theo khái niệm nguyên lý hỏng đơn, khi một hệ thống bị hỏng thì các hệ thống còn lại phải đảm bảo giữ vững chức năng an toàn của mình.

Nguồn nhân lực chất lượng cao

Công nghiệp hạt nhân được đặc trưng bởi yêu cầu về trình độ kỹ năng tổng thể và an toàn ở mức cao. Mối quan ngại nổi bật trong công nghiệp hạt nhân là an toàn, không chỉ bởi lợi ích riêng của ngành, mà còn vì tính nhạy cảm ở khía cạnh chấp nhận của công chúng và nói một cách chính thức là vì quy định pháp quy của quốc gia, của khu vực và các thỏa thuận quốc tế.

 

Việt Nam đang nỗ lực chuẩn bị xây dựng hai nhà máy điện hạt nhân đầu tiên tại tỉnh Ninh Thuận. Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã có dự án riêng về nhân lực và đã được phê duyệt. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã có đề án để phát triển nhân lực tâp trung đào tạo đại học và sau đại học. Hiện nay đã có 353 sinh viên của Việt Nam đang theo học tại cơ sở đào tạo của Nga. Tốp sinh viên đầu tiên đã tốt nghiệp vào cuối năm 2006. Ngoài ra, công tác đào tạo cán bộ của chúng ta đã tận dụng được rất tốt sự giúp đỡ của IAEA và các tổ chức quốc tế của các nước khác trong việc đào tạo các cán bộ tham gia quản lý, tham gia các công tác nghiên cứu và hỗ trợ kĩ thuật.

Hiện nay, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phê duyệt kế hoạch năm 2015 và triển khai một bước tiếp theo, sử dụng ngân sách khoa học và công nghệ cho công tác bồi dưỡng này. Theo nhiệm vụ của Thủ tướng giao hoàn thành đề án đào tạo đến năm 2020 cho cán bộ quản lý Nhà nước, cán bộ pháp quy và các chuyên gia kĩ thuật, đây là 3 cấu phần nhân lực chính, đồng thời cũng là những người trực tiếp làm việc vận hành quản lý dự án. Những người tham gia vào quản lý nhà nước và các chuyên gia kỹ thuật của Việt Nam góp phần giúp cho dự án được triển khai và đưa vào sử dụng đúng như là cam kết quốc tế về an toàn, an ninh cũng như là phù hợp với luật pháp cũng như là cách quản lý của Việt Nam hiện nay.

 

Song Anh