Ngày 26/09/2016, các tổ chức tín dụng lớn đã điều chỉnh giảm lãi suất huy động tiền đồng kỳ hạn dưới một năm với mức giảm từ 0,3-0,5%. Việc điều chỉnh trên không phải là sự ngẫu nhiên và nằm trong tính toán của cơ quan quản lý là có cơ sở.

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, động thái điều chỉnh giảm lãi suất huy động của các tổ chức tín dụng nêu trên là giải pháp tích cực, kịp thời nhằm triển khai định hướng điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ  đã được Thống đốc NHNN cụ thể hóa cho ngành ngân hàng tại Chỉ thị số 04/CT-NHNN ngày 27/5/2016 tiết giảm chi phí để phấn đấu cắt giảm lãi suất cho vay qua đó hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và nền kinh tế.

Khó đạt mục tiêu

Theo nhân định của Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), động thái này có thể giảm cạnh tranh trong huy động vốn giữa khối ngân hàng lớn và nhóm còn lại. Từ đó, nắn dòng vốn huy động chuyển từ các ngân hàng lớn sang các NHTM còn lại và tạo điều kiện cho mục tiêu giảm lãi suất cho vay trên bình diện chung. Tuy nhiên, còn quá sớm để kỳ vọng việc giảm lãi suất huy động có thể kéo theo giảm lãi suất cho vay, từ đó thúc đẩy tín dụng để hỗ trợ tăng trưởng GDP quý 4.

Về cơ bản, không hẳn là không có điều kiện để lãi suất cho vay giảm thêm, vấn đề là cửa giảm trong ngắn hạn khá hạn hẹp nếu nhìn từ góc độ vĩ mô. Trước hết, số liệu từ NHNN cho thấy tính trung bình tháng 9/2016, lãi suất cho vay qua đêm mức thấp kỷ lục, khoảng 0,39%/năm, giảm 44 điểm cơ bản so với tháng trước. Tuy nhiên, theo nhận định của VDSC, tốc độ huy động vốn đang chậm lại đáng kể, huy động vốn tính đến ngày 20/09 chỉ tăng 1,2% so với cuối quý 2. Tốc độ tăng này thấp hơn nhiều so với diễn biến cùng kỳ các năm trước, điều này có thể khiến cửa mở để nắn vốn huy động vào các ngân hàng tốp dưới bị thu hẹp.

Giá trị huy động vốn tăng thêm theo quý. Nguồn: Tổng cục Thống kê

Trên thị trường trái phiếu Chính phủ, các thành viên thị trường (chủ yếu là các ngân hàng) đã chấp nhận cho Chính phủ vay với chi phí thấp hơn là một tín hiệu tích cực đối với vấn đề nợ công. Theo đó, kỳ hạn vay nợ được kéo dài và chi trả lãi vay thấp hơn. So với đầu năm, lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 5 năm giảm mạnh nhất, khoảng 1,42 điểm phần trăm, kỳ hạn 1 năm và 3 năm giảm 1,15 điểm phần trăm.

Điểm nổi bật trong tháng 9 vừa qua là lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm vốn được neo ở mức 7%/năm đã giảm 50 điểm cơ bản. Nhu cầu trái phiếu Chính phủ cao đến mức cuối tháng 9 vừa qua Kho bạc nhà nước tiếp tục điều chỉnh tăng kế hoạch phát hành trái phiếu năm 2016 thêm 31.000 tỷ đồng lên 281.000 tỷ đồng.

Quý 3 vừa qua, tín dụng tăng trưởng khá chậm, đi kèm với đó là một nghịch lý là dù tăng trưởng trong hoạt động sản xuất công nghiệp đang là trụ đỡ cho tăng trưởng kinh tế, song tăng trưởng tín dụng dành cho khu vực này lại tăng với tốc độ chậm hơn tăng trưởng chung.

Năm 2016, tăng trưởng tín dụng nhìn chung cũng được đẩy nhanh hơn trong nửa đầu năm, nhưng những ngành nghề được ưu tiên khi đi vay tăng khá chậm. Ngoài ra, những điều kiện ràng buộc về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, tỷ lệ cho vay trên huy động và trích lập dự phòng nợ xấu vẫn còn treo lơ lửng trong bức tranh hoạt động của hệ thống ngân hàng hiện nay. Do vậy, VDSC cho rằng sẽ là khó khăn để cơ quan điều hành “ép” tăng trưởng tín dụng và GDP trong quý 4 đến mức kỳ vọng lần lượt là 18%-20% và 6,3%-6,5%.

Diễn biến lãi suất trái phiếu Chính phủ. Nguồn: Bloomberg.

Người gửi tiền cần lãi suất thực dương

Việc mạnh tay trong điều chỉnh giá hàng hóa dịch vụ công như y tế và giáo dục đã khiến Việt Nam trở thành nước có mức lạm phát cao thứ 3 trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, chỉ đứng sau Myanmar và Ấn Độ. So với cùng kỳ năm ngoái, chỉ số giá tăng 3,34%. Ngoài mức tăng giá đột biến của nhóm y tế (tăng 33% so với cùng kỳ) và giáo dục (tăng 10% so với cùng kỳ), các nhóm hàng còn lại có mức tăng khá đồng đều, trong khi đó, nhóm giao thông tiếp tục đà giảm do giá dầu vẫn ở vùng giá thấp.

Câu chuyện trong vài tháng tới có lẽ không ảnh hưởng nhiều đến mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng, lạm phát cả năm có thể dao động trong khoảng 3,5%-4% và lạm phát lõi ổn định quanh mức 2%. Tuy nhiên, trong trung và dài hạn, khá nhiều yếu tố ủng hộ cho xu hướng tăng của lạm phát như: Chỉ số giá lương thực đang tăng trở lại và đang dần tiệm cận mặt bằng giá đầu năm 2015, trong nước, giá các mặt hàng thiết yếu khả ổn định. Cần lưu ý, khả năng tự cung ứng lương thực giúp cho Việt Nam ít chịu ảnh hưởng của xu hướng giá thế giới, tuy nhiên, khó có thể kết luận rằng giá trong nước sẽ ổn định mãi khi giá thế giới đang tăng nhanh trở lại với độ mở của nền kinh tế và nhu cầu tiêu dùng trong nước cao như hiện nay.

Lạm phát của Việt Nam so với các nước trong khu vực Châu Á - TBD.
Nguồn: Tradingeconomics

Hơn nữa, giá dầu có khả năng tăng sau cuộc họp OPEC vào tháng 11 tới, khi nhóm nước này đồng ý cắt giảm sản lượng, xu hướng hồi phục được dự kiến trong cả năm sau sẽ khiến nhóm hàng giao thông tăng trở lại.

Điểm tích cực là xu hướng tăng giá sẽ không mạnh và ảnh hưởng đến chính sách điều hành tiền tệ và gây bất ổn vĩ mô, tuy nhiên, các ngân hàng sẽ rất thận trọng nếu cắt giảm lãi suất thêm trong năm sau. Điều này cũng khiến cho NHNN rơi vào thế khó khi kiên trì với định hướng giảm tiếp lãi suất huy động và cho vay. Liệu rằng người gửi tiền sẽ chấp nhận mức lãi suất thấp hơn lạm phát trong năm 2017 khi động cơ gửi tiền là để trông chờ nhận khoản tiền lãi hoặc dành để chi tiêu trong tương lai?

Nguyễn Tuân