Trong dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XII lần này, nội dung “Phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc” đã được nhận thức và nâng lên tầm cao hơn, là một thành tố quan trọng trong chủ đề đại hội.

Có thể thấy, vấn đề phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân luôn là nội dung quan trọng được đề cập trong các Báo cáo chính trị của các kỳ đại hội Đảng. Trong dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XII lần này, nội dung “Phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc” đã được nhận thức và nâng lên tầm cao hơn, là một thành tố quan trọng trong chủ đề đại hội, đó chính là sự đổi mới so với dự thảo Báo cáo chính trị trình các đại hội trước.

Đại đoàn kết là truyền thống quý báu của dân tộc ta, trải qua lịch sử hơn 4.000 năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã chứng minh sức mạnh vô địch của tinh thần yêu nước và để lại những bài học quí giá về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc cho Đảng ta. Thấm nhuần tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của cha ông, đứng vững trên lập trường đoàn kết quốc tế, đoàn kết giai cấp của chủ nghĩa Mác-Lênin, nhận thức sâu sắc về vai trò to lớn, sức mạnh vô địch của quần chúng nhân dân và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn đề cao vai trò, sức mạnh vô địch của nhân dân; chỉ rõ sự cần thiết phải tập hợp quần chúng, phát huy cao độ, sáng tạo tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc để tiến hành sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, đem lại độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chính là nguyên tắc, đường lối duy nhất đúng đắn để tạo ra sức mạnh của Đảng. Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, bảo đảm thành công của cách mạng: Đoàn kết toàn dân tộc để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc, để tập hợp lực lượng; phát huy truyền thống đại đoàn kết trong sự hòa quyện nhân tố dân tộc, giai cấp, nhân dân để tiến hành sự nghiệp cách mạng XHCN, thực hiện công cuộc đổi mới, hướng tới mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, góp phần xây dựng và giữ gìn nền hòa bình, dân chủ trong khu vực và trên thế giới. Đảng ta luôn kiên trì thực hiện nguyên tắc đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đó là phương thức tạo nên sức mạnh tổng hợp của đoàn kết giai cấp, đoàn kết dân tộc và hòa hợp xã hội theo mục tiêu và lý tưởng xã hội chủ nghĩa; quy tụ mọi nguồn lực cho sự phát triển bền vững của xã hội. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở đồng thuận xã hội trong bối cảnh hiện nay cần phải đặc biệt chú ý đến vấn đề phát huy dân chủ, vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc; vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo; tăng cường đoàn kết quốc tế và nhất là tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sức mạnh đoàn kết của nhân dân đã được nhân lên gấp bội. Trong những năm đầu cách mạng, chỉ với hơn 5.000 đảng viên, nhưng biết phát huy truyền thống yêu nước và tranh thủ thời cơ, Đảng đã tập hợp được sức mạnh của toàn dân tộc, lãnh đạo nhân dân vùng lên tiến hành cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhân dân ta đã làm nên những kỳ tích trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, hoàn thành mục tiêu độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc và thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước đi theo con đường Chủ nghĩa xã hội.

Trong 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ra sức thi đua, tích cực thực hiện công cuộc đổi mới và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử: Đất nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang tích cực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển. Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường. Văn hoá - xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng. Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và cả hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao... Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân có nhiều đổi mới cả về nội dung và phương thức hoạt động; phát huy ngày càng tốt hơn vai trò tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc...

Tuy nhiên, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chưa được phát huy đầy đủ, có lúc, có nơi chưa phát huy được vai trò, sức mạnh của nhân dân. Chưa đánh giá và dự báo chính xác những diễn biến, thay đổi cơ cấu xã hội; chưa nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân để có chủ trương, chính sách phù hợp. Chủ trương, quan điểm của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc, về quyền và lợi ích hợp pháp của các giai cấp, tầng lớp nhân dân chưa được kịp thời thể chế hoá, hoặc đã thể chế hoá nhưng chưa được thực hiện nghiêm túc. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức chưa thật sự tôn trọng, lắng nghe ý kiến để giải quyết kịp thời, có hiệu quả những yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách để thể chế hoá đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng về Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân còn thiếu và chưa đồng bộ.

Chúng tôi hoàn toàn đồng tình, nhất trí cao với những bài học, mục tiêu, nhiệm vụ chính trị, phương hướng mà bản dự thảo Báo cáo chính trị của Đảng đã nêu. Tuy nhiên, để xây dựng, củng cố và phát huy hơn nữa sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tôi đề nghị: Đảng phải thường xuyên, không ngừng quan tâm chăm lo, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các cấp ủy Đảng từ Trung ương tới địa phương đều phải thấm nhuần quan điểm, đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc theo tinh thần của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Củng cố, xây dựng, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc phải đi đôi với công cuộc đổi mới mà Đảng ta đang phát động và thực hiện; phải triệt để tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy cao độ quyền làm chủ của tất cả quần chúng nhân dân; tích cực khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc và tinh thần thi đua ái quốc của mỗi người dân. Phải thực hiện nghiêm túc công tác tuyên truyền, vận động, lôi cuốn nhân dân tích cực tham gia các phong trào cách mạng do Đảng lãnh đạo. Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thật sự tin dân, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân, có trách nhiệm với dân. Giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc, những kiến nghị chính đáng của nhân dân và khiếu nại, tố cáo của công dân. Củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân đối với Đảng, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân; tập hợp, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân, tạo thành phong trào cách mạng rộng lớn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Cần phải tiếp tục thể chế hoá và cụ thể hoá các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc; hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách phát huy vai trò của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn của đất nước; khắc phục những hạn chế, bảo đảm tác dụng, hiệu quả thực chất hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.

Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hoà quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm mỗi người dân đều được thụ hưởng những thành quả của công cuộc đổi mới. Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các cấp ủy đảng và chính quyền phải thường xuyên đối thoại, lắng nghe, học hỏi, tiếp thu ý kiến, giải quyết các khó khăn, vướng mắc và yêu cầu chính đáng của nhân dân; tin dân, tôn trọng, lắng nghe những ý kiến khác; có hình thức, cơ chế, biện pháp cụ thể, thích hợp để nhân dân bày tỏ chính kiến, nguyện vọng và thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; trân trọng, tôn vinh những đóng góp, cống hiến của nhân dân.

Cần phải thường xuyên quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát huy vai trò của giai cấp công nhân, nông dân, trí thức cả về số lượng và chất lượng. Rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên... đủ năng lực đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân.

Tiếp tục tăng cường củng cố tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Mặt trận Tổ quốc đóng vai trò nòng cốt trong tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát và phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động ngoại giao nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Qua nghiên cứu, đóng góp ý kiến, chúng tôi càng nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn những nội dung nêu trong dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI trình tại Đại hội lần thứ XII của Đảng (nhiệm kỳ 2015 - 2020). Dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, chúng tôi sẽ ra sức thi đua phấn đấu, khắc phục mọi khó khăn hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ, góp phần thực hiện tốt công tác xây dựng Đảng, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc.

Nguyễn Quang Sơn - Bí thư Thị uỷ, Chủ tịch HĐND Thị xã Sơn Tây (Hà Nội)