Chủ trương tạo ra việc làm bền vững cho phụ nữ khuyết tật (PNKT) cũng cần thay đổi đó là cách đào tạo nghề cho PNKT để phù hợp với khả năng của họ.

Có được việc làm bền vững là mong mỏi của người khuyết tật (NKT), đặc biệt của những phụ nữ khuyết tật (PNKT). Tuy nhiên, với các rào cản hữu hình và vô hình, PNKT ít được chăm sóc sức khỏe, học văn hóa, học nghề, ít được tiếp cận với các cơ hội việc làm tạo ra thu nhập, ít được tham gia hoạt động cộng đồng. Họ chỉ quẩn quanh trong nhà, phải sống dựa vào gia đình, né tránh, mặc cảm với xã hội, không được tiếp cận học nghề và việc làm… Đó là những thông tin được chia sẻ tại Hội thảo “PNKT với cơ hội việc làm” do Ban Hành động vì Sự phát triển Hòa nhập (IDEA) phối hợp với Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tổ chức vào ngày 30/10/2015.
Giám đốc IDEA, bà Nguyễn Hồng Oanh cho biết PNKT không chỉ gặp những rào cản như những phụ nữ khác, mà còn thêm rào cản về tình trạng khuyết tật của họ. Vì thế, PNKT là một trong các nhóm yếu thế nhất trong xã hội bởi các lý do về giới tính, khuyết tật và sự nghèo đói. PNKT thường gặp nhiều rủi ro, dễ bị lạm dụng lao động và tình dục hơn so với những phụ nữ bình thường, các quyền về sức khỏe sinh sản của họ ít được quan tâm và đảm bảo… PNKT cũng chịu nhiều tác động của nghèo đói do các rào cản về giới. Những khó khăn mà PNKT gặp phải cao hơn ít nhất 3 lần so với nam giới và là đối tượng yếu thế cần được bảo vệ. 

Thực tế cho thấy, PNKT là một lực lượng lao động không nhỏ trong xã hội và đòi hỏi phải được bảo vệ bằng luật pháp để bảo đảm quyền bình đẳng tham gia vào các hoạt động của xã hội, trong đó có quyền bình đẳng về việc làm bền vững. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của TS. Nguyễn Thị Thu Hoài (Học viện Phụ nữ Việt Nam) về vấn đề việc làm cho PNKT: Với 463 mẫu định lượng và 45 mẫu định tính, khảo sát tại 3 tỉnh (Thái Nguyên, Thừa Thiên - Huế, Tây Ninh) thì có chưa tới 1/3 số PNKT có việc làm. Có những người đã từng đi làm, nhưng phải bỏ công việc vì nhiều lý do, trong đó phần nhiều họ không tìm được công việc phù hợp với sức khỏe của mình. Nhiều người bị sa thải hoặc từ chối do hiệu quả công việc thấp, bị kỳ thị, phân biệt, khó khăn trong việc đi lại.

PNKT là một lực lượng lao động không nhỏ trong xã hội và đòi hỏi phải được bảo vệ bằng luật pháp để bảo đảm quyền bình đẳng.

Thường thường, PNKT bị kỳ thị từ khi tuyển dụng cho đến khi được tuyển dụng. Nhiều khi nhà tuyển dụng mang lại cho họ tâm lý khả năng sức khỏe của họ không đảm bảo công việc. Gia đình không đồng ý cho PNKT đi làm bởi lý do cho các chị ăn, ngủ là tốt lắm rồi, thời gian đưa các chị đi làm và đưa về thì thà để các chị ở nhà còn hơn. Những công việc PNKT đang làm thường là những công việc mang tính tự phát do không có nhiều lựa chọn. Chủ yếu là các lao động giản đơn, tỷ lệ được đào tạo nghề không cao và đào tạo rồi cũng không phải ai cũng làm được và có thu nhập. Cứ bốn người PNKT đang làm việc thì có một người phải làm việc trong điều kiện không tốt. Mặc dù việc tiếp cận với việc làm rất khó khăn với PNKT nhưng nếu được đi làm họ sẽ có những đóng góp đáng kể cho gia đình và xã hội. Gần 40% PNKT đi làm có đóng góp từ 11-30% cho gia đình; 22% đóng góp từ 31-50% thu nhập, 5,9% PNKT đóng góp trên 50% thu nhập cho gia đình.

Tại Hội thảo, ông Đào Trọng Độ - Phó Vụ trưởng Vụ Dạy nghề thường xuyên, Tổng cục Dạy nghề (Bộ LĐTBXH) cho biết, trong 5 năm 2010 - 2010 có khoảng 120.000 NKT được hỗ trợ dạy nghề và tạo việc làm thông qua các chương trình hỗ trợ đào tạo nghề, cho vay vốn Quỹ Quốc gia về việc làm và giới thiệu việc làm. Trong đó, có gần 100.000 NKT được hỗ trợ dạy nghề, trên 2.500 người được vay vốn Quỹ Quốc gia về việc làm và gần 19.300 người được tư vấn học nghề, giới thiệu việc làm. Đề án đào tạo nghề cho lao động  nông thôn hỗ trợ dạy nghề cho khoảng 20.000 NKT.

Theo ông Độ, mặc dù đạt được những kết quả nêu trên nhưng số lượng NKT được hỗ trợ dạy nghề, tạo việc làm còn thấp, chưa đạt mục tiêu đề ra tại QĐ 1019/QĐ-TTg. Công tác tuyên truyền về các chính sách dạy nghề và tạo việc làm cho NKT còn hạn chế dẫn đến NKT chưa có nhiều thông tin về đào tạo nghề, cơ sở đào tạo và việc làm phù hợp, chưa có cơ hội tiếp cận chính sách. NKT tiếp cận vay vốn ưu đãi còn hạn chế, một phần là do NKT không thuộc hộ nghèo, cận nghèo thì không được vay vốn của Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm. Đồng thời nguồn vốn còn hạn chế, nên số lượng NKT được vay vốn đạt rất thấp. 

Theo TS. Nguyễn Thị Thu Hoài, để tăng cơ hội việc làm đối với PNKT, cần quan tâm đến vấn đề giáo dục, nâng cao học vấn và đào tạo nghề cho PNKT, đặc biệt là với nhóm PNKT trẻ tuổi - nhóm có thu nhập bấp bênh nhất, đang học và làm một nghề không được bảo đảm. Bên cạnh đó, cần cung cấp thông tin, tư vấn và giới thiệu việc làm cho PNKT, hỗ trợ vốn, phương tiện đi lại. Đồng thời, có phương hướng thức đẩy việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp trong vấn đề tạo việc làm cho PNKT; Tích cực truyền thông, giảm kỳ thị với NKT nói chung và PNKT nói riêng.  

Bài viết phục vụ tuyên truyền Đề án phát triển nghề Công tác xã hội (Đề án 32)

Thảo Vân