Quan hệ an ninh Mỹ - Nhật: Tăng đà hay trượt phanh?

Phan Sương

Không ít những lời cảnh báo của các chuyên gia Nhật Bản về một sự trượt phanh trong mối quan hệ an ninh Mỹ - Nhật Bản. 

Nguy cơ trượt dốc trong mối quan hệ an ninh Mỹ - Nhật là chủ đề của nhiều bài báo phân tích gần đây trên tờ Asia Pacific Bulletin. Đây không phải là lần đầu tiên vấn đề này được đề cập đến. Tác giả Yoichi Funabashi đã từng phân tích điều này trong cuốn sách xuất bản năm 1999 của ông: Liên minh Chơi vơi. Trong cuốn sách này, tác giả đã dựa vào những va chạm trong mối quan hệ giữa hai nước trong suốt những năm 1990 để đưa ra các nhận định, cũng là đưa ra một số sáng kiếng nhằm tái kiểm định và củng cố liên minh Mỹ - Nhật.

Ngay cả khi mối quan hệ an ninh Mỹ - Nhật đạt được đỉnh cao dưới thời hai nhà lãnh đạo Bush và Koizumi, các nhà phân tích cũng đã tìm thấy các xu hướng báo hiệu một tương lai mờ nhạt của hai bên.

Trước hết, biểu hiện của sự xuống dốc bắt đầu kể từ khi Liên Xô tan rã, không còn mối đe dọa nào đối với an ninh của Nhật và Mỹ, vì thế, không có sợi giây gắn kết liên minh với nhau. Thay vào đó, số lượng các mối đe dọa tiềm năng lại khiến cho Washington và Tokyo có khuynh hướng quan sát khác nhau. Sự khác biệt trong nhận thức mối đe dọa của sự hiện đại hóa quân đội Trung Quốc, Triều Tiên, sự phổ biến vũ khí và khủng bố có thể đã khiến hai nước đang dần xa nhau ra.

Thổng thống Mỹ Barack Obama gặp gỡ Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe tại Hội nghị thượng đỉnh G20 ở Nga hồi tháng 9/2013.

Sự phụ thuộc vào mối đe dọa, cạm bẫy trong các liên minh đối tác khác có thể là điều đáng lo ngại hơn so với các mối đe dọa trực tiếp vào mỗi quốc gia. Trong khi đó, vấn đề quản lý các căn cứ Mỹ ở Nhật Bản, đặc biệt là căn cứ không quân Futenma luôn luôn gây tranh cãi. Ngoài những vấn đề này, nhận thức khác nhau về lợi ích quan hệ cùng các lực lượng quân sự trên thế giới và quan điểm khác nhau về vai trò lịch sử của Nhật Bản (chẳng hạn như chế độ thực dân trong quá khứ và vấn đề “nô lệ tình dục”) trong khu vực vẫn là nguồn gốc gây tranh cãi giữa hai đồng minh.

Tuy có những dấu hiệu cho thấy Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật Bản đang ngày càng “thiếu sức sống” thì mối quan hệ an ninh song phương lại bền vững đáng ngạc nhiên. Độ bền này đã được tăng cường trong suốt 50 năm hợp tác trong khu vực, thông qua đào tạo quân sự chung, tích lũy kinh nghiệm và mạng lưới cá nhân trên cả hai mặt của mối quan hệ.

Đối với những khác biệt trong văn hóa, mối quan tâm chung về bề rộng và chiều sâu là đáng kể. Cả hai nước đều có lợi ích trong việc Trung Quốc trở thành một cường quốc có trách nhiệm, trong việc ngăn chặn các kịch bản xấu nhất trên bán đảo Triều Tiên và trong việc duy trì một hệ thống quốc tế bền vững.

Các mối đe dọa mạnh nhất đến mối quan hệ an ninh Mỹ - Nhật Bản không phải là việc hai bên dần cách xa nhau. Đúng hơn, nó sẽ là một sự kiện quan trọng – và sự thất bại của các nhà lãnh đạo trong việc giải quyết tận gốc vấn đề - sẽ dẫn đế sự sụp đổ đầu tiên của Hiệp ước an ninh.

Trên thực tế, các sự kiện quan trọng đã xảy ra. May mắn, hoặc có chủ đích, các sự kiện đó đã giúp củng cố thêm nền tảng của mối quan hệ an ninh. Đó chính là sự kiện vụ tấn công khủng bố ở Mỹ ngày 11/9/2001 và thảm họa sóng thần Nhật Bản ngày 11/3/2011. Hoạt động Tomodachi không chỉ là sự thành công về mặt hỗ trợ vật chất mà còn là một quảng cáo công khai về sự bền vững của Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật mà Washington đã thể hiện với Tokyo. Tương tự như vậy , Nhật Bản (và đặc biệt là Thủ tướng Junichiro Koizumi ) cũng đã hỗ trợ không mệt mỏi cho Mỹ sau sự kiện vụ tấn công 11/9, làm tăng đáng kể lòng tin giữa hai đối tác và các nhà phê bình cũng nhận ra độ bền và tính linh hoạt của mối quan hệ.

Sự cố hiếp dâm năm 1995, khi một nữ sinh Okinawa bị hãm hiếp bởi ba lính Mỹ, cũng là một sự kiện quan trọng. Cũng như trận động đất và vụ tấn công 11/9, một thất bại ngoại giao của các lãnh đạo có thể đã gây tổn thương mối quan hệ, dẫn đến một cuộc biểu tình leo thang và lời kêu gọi yêu cầu Mỹ đóng cửa các căn cứ quân sự ở các vùng trên khắp Nhật Bản.

May mắn thay, các nhà lãnh đạo chính trị hàng đầu (Thủ tướng Tomiichi Murayama và Ryutaro Hashimoto; Tổng thống Bill Clinton và Đại sứ Mỹ ở Nhật Walter Mondale) cùng các nhà lãnh đạo liên minh tỏ ra chuyên nghiệp khi giải quyết các cuộc biểu tình và khẳng định lại mối quan hệ.

Trong mỗi trường hợp nói trên, các cuộc khủng hoảng đã trở thành bối cảnh tìm kiếm sự thích nghi và đổi mới. Đường hướng quan hệ có thể là quan trọng, nhưng có lẽ là yếu tố quan trọng nhất là làm thế nào các nhà lãnh đạo đối phó với những thách thức trong tương lai.

Giống như quá khứ, trong tương lai, chất lượng lãnh đạo ở cả Mỹ và Nhật Bản sẽ được thử nghiệm trong các cuộc khủng hoảng lớn và nhỏ. Một thế hệ lãnh đạo chất lượng sẽ dẫn đến sự đổi mới của Hiệp ước An ninh Mỹ - Nhật và nó lại tượng trưng cho một thời kỳ hỗn loạn. Và tất nhiên,  một sự thất bại của các nhà lãnh đạo có thể dẫn đến sự sụp đổ mối quan hệ này.

cùng chuyên mục
Kéo xuống để xem tiếp nội dung
Xem thêm trên infonet