Để đẩy nhanh tiến độ xây dựng NTM tại các xã đặc biệt khó khăn, lộ trình từ năm 2016-2020, tỉnh Quảng Ninh chỉ đạo các ngành tập trung vào 6 giải pháp chủ yếu

 

 Đó là: phát triển các cơ sở hạ tầng thiết yếu trên địa bàn thôn; phát triển sản xuất gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn; bảo vệ môi trường; xây dựng đời sống văn hóa nông thôn; giữ vững an ninh, trật tự; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng NTM, phát huy vai trò của các tổ chức, đoàn thể.

Sau 4 năm thực hiện phong trào Xây dựng NTM đã tạo ra diện mạo mới cho các xã đặc biệt khó khăn trong toàn tỉnh. Nhiều xã đặc biệt khó khăn phấn đấu cơ bản đạt tiêu chí NTM như Bắc Sơn, Hải Sơn (TP Móng Cái), xã Quảng Lợi (huyện Đầm Hà)… Kết cấu hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống người dân được quan tâm; nhiều chỉ tiêu về hạ tầng cao hơn so với mức bình quân toàn quốc như thủy lợi, điện, chợ nông thôn… Sản xuất nông nghiệp đã phát triển theo hướng tích cực, đã có sự chuyển dịch tích cực trong cơ cấu như xã Quảng An (huyện Đầm Hà) cơ cấu ngành nghề thuộc lĩnh vực dịch vụ thương mại tăng từ 4% năm 2011 lên 9,4% năm 2014, xã Thanh Sơn (huyện Ba Chẽ) dịch vụ thương mại tăng từ 1,3% năm 2011 lên 5,12% năm 2014; xã Đồng Sơn (huyện Hoành Bồ) dịch vụ thương mại tăng từ 6,7% năm 2011 lên 8,0% năm 2014.

Nuôi tôm theo hình thức công nghiệp tại huyện Đầm Hà.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả kể trên, hành trình xây dựng NTM ở những xã đặc biệt khó khăn trong tỉnh vẫn còn vô vàn khó khăn. Trao đổi với chúng tôi về vấn đề này, đồng chí Trương Công Ngàn, Trưởng Ban Xây dựng NTM tỉnh cho biết: Điểm chung của các xã đặc biệt khó khăn trong toàn tỉnh là cơ sở hạ tầng thiếu thốn và chưa đồng bộ; phương thức canh tác lạc hậu; trình độ dân trí còn hạn chế, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân còn thấp. Khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển giữa các xã ĐBKK vùng miền núi dân tộc với các xã vùng nông thôn, vùng đô thị của tỉnh khá lớn; chênh lệch giàu - nghèo có xu hướng gia tăng. Cụ thể, thu nhập bình quân đầu người ở các xã đặc biệt khó khăn chỉ bằng 36,4% so với thu nhập bình quân chung của tỉnh, còn thu nhập đầu người vùng dân tộc thiểu số thì thấp hơn so với đồng bằng đô thị khoảng 8,6 lần.

Sau 5 năm thực hiện chương trình xây dựng NTM, tỷ lệ hộ nghèo tại các xã đặc biệt khó khăn đã giảm mạnh, song kết quả giảm nghèo chưa bền vững, nguy cơ tái nghèo cao. Đến hết năm 2014, vẫn còn 14 xã có tỷ lệ hộ nghèo trên 20%, điều đáng nói là tỷ lệ hộ nghèo ở xã đặc biệt khó khăn cao gần gấp 9 lần tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh; đối với tỷ lệ hộ nghèo trung bình ở các xã đặc biệt khó khăn là 18,61%... Bên cạnh đó, tại các xã đặc biệt khó khăn, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động qua đào tạo nghề rất thấp. Ví dụ như tại Ba Chẽ tỷ lệ người trong độ tuổi lao động qua đào tạo nghề chỉ chiếm 1,17%, tỷ lệ này ở Hoành Bồ là 10,8%, Hải Hà là 11,5%, Bình Liêu là 12,5%...

Được biết, từ năm 2011 đến nay, các dự án đầu tư hỗ trợ phát triển sản xuất triển khai tại các xã đặc biệt khó khăn khoảng trên 23 tỷ đồng. Tuy nhiên, việc xây dựng và triển khai các mô hình phát triển sản xuất còn hạn chế. Nhiều mô hình chưa phù hợp với nhu cầu của người dân và thực tiễn trên địa bàn dẫn đến hiệu quả thấp. Một số mô hình triển khai chỉ hiệu quả trong thời gian có nguồn vốn hỗ trợ, nhưng sau đó không được nhân rộng do không còn vốn hỗ trợ. Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế, năng suất lao động và giá trị đạt được chưa cao, thu nhập của người dân thấp. Tổng số công trình đã đầu tư trên địa bàn các xã đặc biệt khó khăn từ khi triển khai chương trình xây dựng NTM đến nay khoảng 622 công trình, với tổng vốn đầu tư 1.091 tỷ đồng. Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng còn thiếu đồng bộ, đặc biệt là các thôn vùng sâu, vùng xa, giao thông chủ yếu là đường đất. Một số công trình đập chứa nước được đầu tư, nhưng hệ thống kênh mương chưa đảm bảo nên hầu hết các xã này đều thiếu nước sản xuất.

Theo cơ quan chức năng của tỉnh, những khó khăn trong chương trình xây dựng NTM tại các xã đặc biệt khó khăn hiện nay, ngoài nguyên nhân khách quan như về xuất phát điểm trong chương trình của các xã thấp thì còn có nhiều nguyên nhân chủ quan. Cụ thể như nguồn lực đầu tư cho các xã đặc biệt khó khăn hạn chế, chủ yếu là nguồn vốn chương trình 135 và chương trình xây dựng NTM, việc huy động nguồn lực từ doanh nghiệp và cộng đồng đạt thấp… Năng lực lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chương trình xây dựng NTM ở một số xã đặc biệt khó khăn chưa đạt yêu cầu; một số địa phương chưa quan tâm đúng mức tới công tác đào tạo nghề; công tác rà soát, đánh giá và bình xét hộ nghèo còn nhiều bất cập, dẫn đến kết quả bình xét có nơi chưa đúng với thực tế…

Chỉ đạo với các ngành, địa phương tại cuộc họp rà soát tiến độ thực hiện chương trình xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh mới đây, đồng chí Đặng Huy Hậu, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh nhấn mạnh: Thời gian tới, tỉnh sẽ tiếp tục hỗ trợ đầu tư cho các xã khó khăn để xây dựng cơ sở hạ tầng, trong đó có hạ tầng giao thông. Tỉnh sẽ hỗ trợ vật liệu để người dân thi công các tuyến đường trục chính tại xã, thôn. Về hạ tầng thông tin liên lạc, các ngành chức năng cần tiếp tục đầu tư, nâng cấp. Riêng về thủy lợi, ngành nông nghiệp cần tiếp tục nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới để triển khai thực hiện nâng cấp hệ thống kênh mương… Tập trung phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân. Đặc biệt quan tâm đến xây dựng và sản xuất theo quy hoạch sản xuất nông nghiệp tập trung; lựa chọn cây trồng, vật nuôi phù hợp, trên tinh thần nhà nước sẽ hỗ trợ về cây, con giống. Các xã khó khăn cần tuyên truyền, vận động để người dân thực hiện tốt vệ sinh môi trường, ăn ở hợp vệ sinh.

   Để đẩy nhanh tiến độ xây dựng NTM tại các xã đặc biệt khó khăn, lộ trình từ năm 2016-2020, tỉnh Quảng Ninh chỉ đạo các ngành tập trung vào 6 giải pháp chủ yếu là: phát triển các cơ sở hạ tầng thiết yếu trên địa bàn thôn; phát triển sản xuất gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn; bảo vệ môi trường; xây dựng đời sống văn hóa nông thôn; giữ vững an ninh, trật tự; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng NTM, phát huy vai trò của các tổ chức, đoàn thể.

 

BT