Chiều 23/2, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã cho ý kiến về báo cáo công tác nhiệm kỳ khóa XIII của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tại phiên họp, trình bày báo cáo công tác của nhiệm kỳ khóa XIII của Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc cho biết, Quốc hội khóa XIII có vinh dự và đã hoàn thành xuất sắc trọng trách thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 - Hiến pháp của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, ghi đậm dấu ấn của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII trong lịch sử lập hiến của nước ta. 

Theo ông Nguyễn Hạnh Phúc, việc chuẩn bị dự thảo sửa đổi Hiến pháp được tiến hành công phu, thận trọng, nghiêm túc với tinh thần đổi mới mạnh mẽ. Theo đó, ngay từ kỳ họp thứ nhất, Quốc hội đã xem xét, quyết định chủ trương sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992.

Trên cơ sở bám sát Cương lĩnh của Đảng, tình hình thực tiễn, yêu cầu phát triển đất nước, Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã tổ chức tổng kết việc thi hành Hiến pháp, xây dựng Dự thảo sửa đổi Hiến pháp trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến và ban hành Nghị quyết về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp.

Ủy ban TVQH thảo luận về các dự thảo luật. (Ảnh: Vạn Xuân)

Theo ông Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, việc lấy ý kiến về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã được các cấp, các ngành triển khai sâu rộng, nghiêm túc, thu hút được sự tham gia góp ý tích cực, tâm huyết, có chất lượng của các tầng lớp nhân dân và đồng bào Việt Nam ở nước ngoài, thực sự là đợt sinh hoạt chính trị - pháp lý dân chủ, sâu rộng trong toàn xã hội.

Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã tập hợp, tổng hợp đầy đủ, khách quan, trung thực ý kiến của nhân dân; nghiêm túc nghiên cứu, tiếp thu, giải trình cụ thể các ý kiến để chỉnh lý dự thảo sửa đổi Hiến pháp trình Quốc hội.

“Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp năm 2013 với tỷ lệ tán thành gần như tuyệt đối, thể hiện được ý Đảng, lòng dân và sự đồng thuận của cả hệ thống chính trị; kế thừa và phát triển các giá trị cốt lõi, nền tảng của các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và bổ sung nhiều nội dung quan trọng, phù hợp với đường lối, định hướng phát triển đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế. Điều này thể hiện sự quyết tâm chính trị và tinh thần trách nhiệm rất cao của Quốc hội, các vị đại biểu Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và các cơ quan, tổ chức hữu quan trong việc hoàn thành nhiệm vụ lịch sử mà Đảng và nhân dân giao phó”, ông Phúc cho biết.

Theo ông Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, cùng với hoạt động lập hiến, hoạt động lập pháp của Quốc hội trong nhiệm kỳ này đạt được kết quả nổi bật, hết sức quan trọng; kịp thời thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, cụ thể hóa Hiến pháp, tạo nền tảng pháp lý cơ bản cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước trong giai đoạn tới.

Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã xem xét, thông qua 100 luật, bộ luật, 10 pháp lệnh và nhiều nghị quyết có chứa quy phạm pháp luật.

Đặc biệt, ngay sau khi Hiến pháp mới được thông qua, trong thời gian ngắn, Quốc hội đã tập trung xem xét, thông qua hầu hết các bộ luật lớn, các đạo luật quan trọng về tổ chức bộ máy nhà nước, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về lĩnh vực tư pháp, về lĩnh vực xã hội trên cơ sở bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, bảo đảm an sinh xã hội.

“Số lượng văn bản luật, pháp lệnh được thông qua trong nhiệm kỳ tăng nhiều so với các khóa trước đây, phản ánh bước tiến quan trọng trong công tác lập pháp của Quốc hội, tạo điều kiện cho sự hội nhập kinh tế và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn 2011-2015 và các năm sau”, ông Phúc nói.

Nnhiệm kỳ qua, Quốc hội đã có nhiều cải tiến, đổi mới trong quy trình lập pháp theo hướng nâng cao chất lượng, tăng tính chủ động, chặt chẽ, minh bạch, dân chủ, cụ thể trong văn bản luật.

Việc lập Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội cả nhiệm kỳ và hàng năm đã bám sát các quan điểm, đường lối của Đảng, yêu cầu thể chế hóa Hiến pháp; bám sát yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tạo sự chủ động cho các cơ quan trong việc đề xuất, xây dựng và trình các dự án luật, pháp lệnh.  

Công tác soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh đã được nâng lên một bước rõ rệt cả chất lượng và số lượng. Việc phân tích chính sách, đánh giá tác động trước khi xây dựng dự thảo luật đã được coi trọng hơn, kỹ thuật soạn thảo văn bản có tiến bộ rõ rệt.

Việc thẩm tra các dự án được các cơ quan của Quốc hội tiến hành tích cực, khẩn trương, bảo đảm yêu cầu về điều kiện, chất lượng dự án trình Quốc hội. Cơ quan thẩm tra chủ động phối hợp với cơ quan soạn thảo ngay từ đầu và nghiên cứu, khảo sát thực tế, tham khảo, lấy ý kiến của chuyên gia, các đối tượng chịu sự tác động của văn bản,... nên báo cáo thẩm tra nhìn chung bảo đảm chất lượng, tính phản biện cao, là cơ sở quan trọng để Quốc hội, các vị đại biểu Quốc hội thảo luận, cho ý kiến và biểu quyết thông qua các dự án luật.

Các văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành cơ bản bám sát yêu cầu của cuộc sống và đáp ứng các tiêu chí của hệ thống pháp luật về tính đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai và minh bạch; xử lý tốt những vấn đề phức tạp, phản ánh đầy đủ và sát hơn thực tiễn xã hội, nên đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan, tổ chức trong toàn hệ thống chính trị, điều chỉnh tương đối đầy đủ các mối quan hệ kinh tế - xã hội của đất nước. ..

Tuy nhiên, theo đánh giá của ông Phúc, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động lập pháp vẫn còn một số hạn chế nhất định. Đó là chưa khắc phục đáng kể việc điều chỉnh thường xuyên chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.

Một số đạo luật còn có quy định chưa phản ánh đầy đủ, xác thực nhu cầu cuộc sống nên hiệu quả điều chỉnh và tính khả thi không cao. Một số quy định vẫn còn mang tính nguyên tắc chung nên khi triển khai thực hiện vẫn phải phụ thuộc vào văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành. Giữa các văn bản khác nhau vẫn còn có trường hợp quy định thiếu tính thống nhất.

Trong một số trường hợp cơ quan thẩm tra chậm phối hợp hoặc phối hợp chưa hiệu quả với cơ quan soạn thảo, cùng với việc tài liệu phục vụ thẩm tra thường xuyên gửi chậm, nên khó bảo đảm cho việc xem xét kỹ lưỡng, toàn diện cả về nội dung và tính khả thi của quy định, dẫn đến chất lượng thẩm tra không cao, chưa thể hiện rõ nét tính phản biện.

Việc thảo luận, tranh luận, làm rõ vấn đề trong quá trình xem xét, thông qua luật có lúc còn hạn chế, nhất là việc bảo đảm để tranh luận đầy đủ, đối thoại đến cùng giữa đại biểu Quốc hội và cơ quan soạn thảo, cơ quan thẩm tra.

“Công tác chuẩn bị đối với một số dự án luật còn thiếu sự quan tâm đầu tư, dẫn đến việc không bảo đảm tiến độ, chất lượng văn bản trình Quốc hội; trong không ít trường hợp, khâu lập, phân tích chính sách, đánh giá tác động của dự án luật chưa được thực hiện một cách kỹ lưỡng, có chất lượng. Việc tổ chức lấy ý kiến và sử dụng các chuyên gia, các nhà khoa học chưa đạt hiệu quả cao”, ông Nguyễn Hạnh Phúc cho biết.

Vạn Xuân