Các ĐBQH, đồng thời là các chuyên gia tài chính, ngân hàng "bác" quan điểm quy định "lãi suất trong hợp đồng vay tài sản không được vượt quá 200% theo lãi suất cơ bản của NHNN".

Trái với quan điểm đồng tình trong báo cáo thẩm tra của Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội về lãi suất trong hợp đồng vay tài sản không được vượt quá 200% theo lãi suất cơ bản của NHNN công bố, hầu hết các ĐBQH đều “bác” cho rằng, quy định như vậy là “phi thực tế”.

Theo Điều 483 dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) quy định về lãi suất: “Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 200% theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước (NHNN) công bố, trừ trường hợp Luật các tổ chức tín dụng có quy định khác”.

Theo Phó chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao TP. Hồ Chí Minh Huỳnh Ngọc Ánh, quy định như vậy khiến việc xử lý của toà án rất lúng túng.

Ông Ánh dẫn giải, thực tế xử án dân sự, toà đang phải tiếp nhận khá nhiều vụ việc tranh chấp liên quan tới tranh chấp hợp đồng vay, nhưng quá trình thụ lý và xét xử rất phức tạp. Theo quy định, những hợp đồng này là hợp đồng tín dụng thương mại giữa ngân hàng và người đi vay, lãi suất theo thoả thuận ngân hàng, nhưng lại “thòng” quy định lãi suất không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do NHNN quy định. Nay theo dự thảo lại nâng con số này lên 200% thì sẽ càng gây khó khăn trong xét xử.

“Thiết kế điều luật này phải thống nhất, khi đã tranh chấp thì phải đảm bảo quy định, một là theo hợp đồng tín dụng thì sẽ “chiểu” theo quy định của Luật các TCTD của NHNN, còn nếu là hợp đồng dân sự thì quy định như dự thảo luật và mức lãi suất vay là mức lãi tại thời điểm xét xử vào thời điểm xảy ra tranh chấp, chứ không phải thời điểm đi vay. Để tránh tranh chấp sau này thì luật cũng cần quy định rõ, phần vượt trừ vào phần vốn đã vay hoặc phần lãi đã trả”- ông Ánh nói.

Còn theo ĐB Trần Hoàng Ngân (TP. Hồ Chí Minh) đồng thời cũng là chuyên gia tài chính, ngân hàng, thì việc dự thảo nâng con số từ 150% (theo luật hiện hành) lên 200% là phi thực tế. Thực tế, từ năm 2010 đến nay, NHNN cũng đã “né” không còn công bố lãi suất cơ bản mà chỉ công bố lãi suất tái cấp vốn (hiện là 6,5%/năm) và lãi suất tái chiết khấu (hiện là 4,5%/năm). Ngoài ra, NHNN cũng cung cấp thêm thông tin lãi suất liên NH 3 – 6 hoặc 9 tháng.

Nhiều quan điểm cho rằng nên loại bỏ quy định lãi suất vay hợp đồng dân sự không được vượt quá 200% lãi suất cơ bản của NHNN

Còn theo thông lệ quốc tế, lãi suất cơ bản được các quốc gia ban hành ở mức rất thấp, chủ yếu mang tính định hướng chính sách tiền tệ và rất ít điều chỉnh, nhằm tạo ổn định thị trường tiền tệ chứ không nhắm vào mục đích khác. Thay vào đó, áp dụng cơ chế cho vay theo lãi suất liên ngân hàng.

Ông Ngân đơn cử, tại Thái Lan lãi suất cơ bản chỉ 1,5%/năm, nhưng lãi suất thông thường trên thị trường dao động từ 6-12%, vì thế nếu lấy lãi suất cơ bản áp cho lãi suất thị trường là không hợp lý. “Tôi đề nghị loại bỏ quy định lãi suất cho vay thoả thuận không vượt quá 200% như dự thảo luận, nếu áp dụng thì có thể lấy lãi suất vay liên ngân hàng làm tham chiếu”- ĐB Trần Hoàng Ngân nhấn mạnh.

Theo quy định của BLDS hiện hành, quy định hợp đồng vay theo lãi suất cơ bản 150% của NHNN nhằm mục đích làm cơ sở để cơ quan điều tra truy tố cho vay nặng lãi. “Gần 10 năm ra đời nhưng thử hỏi đã có bao nhiều trường hợp cho vay nặng lãi được truy tố, xét xử? Nguyên nhân là do việc căn cứ vào trần lãi suất cơ bản để định tội cho vay nặng lại còn thiếu cơ sở”- ông Lịch đặt vấn đề. 

Cũng đã từng có bài học, trong giai đoạn 2008-2009 khi lãi suất cho vay được đẩy lên tới 20-21%, đã có hiện tượng người vay “trốn” trả nợ và kiện huỷ hợp đồng... và cuối cùng để giúp giải quyết tranh chấp các hợp đồng vay dân sự kiểu này Quốc hội đã phải ban hành nghị quyết để các bên thoả thuận với nhau.

ĐB Trần Du Lịch góp ý kiến: “NHNN thực tế cũng không sử dụng lãi suất cơ bản trong điều hành chính sách tiền tệ. Do đó, việc ban hành riêng lãi suất cơ bản chỉ nhằm phục vụ mục đích chống cho vay nặng lãi là không cần thiết. Thậm chí việc điều chỉnh lãi suất cơ bản còn có thể gây tác động bất lợi đối với thị trường tiền tệ”.

Ông đề xuất, “không quy định lãi suất cơ bản trong BLDS vì, trong nền kinh tế thị trường, giao dịch dân sự dựa trên sự thỏa thuận; không quy định lãi suất cơ bản vẫn có căn cứ để thực hiện nghĩa vụ tài chính”.

Thực tế, ngành ngân hàng muốn “né” Điều 483 dự thảo BLDS là dễ hiểu, bởi nếu chiểu theo quy định này, nhà băng bị đặt vào tình thế pháp lý bất lợi khi xét về lãi suất cho vay, còn NHNN cũng bị quy “không làm tròn trách nhiệm”.

Nguyễn Hoài