Khi quân đội Bắc Việt tiến vào Sài Gòn ngày 30 tháng 4 năm 1975, họ đánh dấu sự thất bại cay đắng nhất trong lịch sử quân đội Mỹ.

Ngày 1/5/1975, ngày đầu tiên kể từ khi quân đội Bắc Việt tiếp quản Sài Gòn, thành phố được đánh thức bởi những bài ca chiến thắng. Trong suốt đêm hôm trước, đội quân chiến thắng đã hối hả dựng loa phóng thanh, nhạc được bật từ 5 giờ sáng, phát đi liên tục những giai điệu vinh quang.  

40 năm sau khi công bố sự kiện này trên tờ The Guardian (Anh) bằng một bản tin, Martin Woollacott (một một cựu phóng viên, biên tập viên quốc tế và bình luận về các vấn đề quốc tế của tờ The Guardian) đã có một thiên phóng sự khá dài, hồi tưởng về những ngày đầu tiên sau sự kiện 30/4/1975 ở Sài Gòn.

Ông là một trong số ít nhà báo nước ngoài ở lại Việt Nam sau ngày 30/4/1975. Gần đây, ông đã có những hồi ức về những ngày đặc biệt ở Sài Gòn trên tờ The Guardian. 

Infonet xin lược dịch và chuyển đến bạn đọc bài viết này để mọi người có cái nhìn rõ hơn về suy nghĩ và quan điểm của một người nước ngoài về ngày 30/4 lịch sử nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày Giải phóng miền Nam, Thống nhất đất nước.

Ngày hôm đó, nắng rực rỡ khắp những con phố vắng vẻ của Sài Gòn, nơi mà trước đó thường khá đông đúc và nhộn nhịp. Hầu hết mọi người không ai biết nên làm gì, có đi làm hay không, có gì ở chợ, có xăng để mua hay không. Thậm chí họ cũng không biết liệu một cuộc chiến mới có xảy ra nữa không. Mọi thói quen sinh hoạt thường ngày của thành phố Sài Gòn lúc đó đã bị phá vỡ hoàn toàn.

Chỉ sau một đêm, Sài Gòn không còn là thủ đô của nước Việt Nam Cộng hòa nữa. Những người lính biến mất, cả những vị tướng, chính trị gia và công chức của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đang nhấp nhô trên những con tàu vượt Biển Đông, phủ trên vai họ là chiếc chăn của Hải quân Mỹ.

Trong suốt nhiều năm của cuộc chiến, khói bom đạn không chạm đến Sài Gòn. Thành phố dường như được miễn nhiễm khỏi những cuộc chiến. Một vài nhà hàng bị đánh bom và xảy ra xung đột, nhưng rất ít sự việc như vậy xảy ra trong thành phố - thực ra chỉ có một trận chiến diễn ra trong đại sứ quán Mỹ - trong suốt chiến dịch Mậu thân 1968. Sài Gòn run rẩy, nhưng vẫn thoát khỏi điều tồi tệ nhất.

Và thực tế, khi những khúc nhạc chiến thắng vang dội phố phường, nó vẫn nằm ngoài chiến sự. Rất ít người biết rằng, quân đội miền Bắc đã chuẩn bị một phương án tấn công mạnh mẽ nhắm vào thành phố trong trường hợp vấp phải sự kháng cự.

Những người sơ tán được đưa lên một chiếc máy bay trực thăng Mỹ nằm trên đỉnh một tòa nhà ở Sài Gòn. Ảnh: Hugh van Es/REUTERS.

Nếu vị Tổng thống cuối cùng của chính quyền miền Nam, tướng Dương Văn Minh, không hạ lệnh đầu hàng, Sài Gòn có thể đã rơi vào tình trạng cực kỳ tồi tệ. Người Việt thường nói đùa rằng Việt Cộng tiếp quản Sài Gòn mà “không làm vỡ một cái bóng đèn nào”. Điều này không hoàn toàn đúng: Đã có thương vong cả hai phía, nhưng cuộc chiến diễn ra ngắn ngủi trong một vùng giới hạn của thành phố.

Tại trung tâm, điều đáng lo ngại hơn là sự vô luật pháp và cướp bóc. Phóng viên Steward Dalby của Thời báo Tài chính và tôi lúc đấy đang đi dọc đường Tự Do, một trong những con phố lớn ở Sài Gòn thì gặp một gã đàn ông trông có vẻ khắc khổ với chiếc áo vắt trên vai đã chắn lối đi với chúng tôi. Anh ta sờ vào lưng quần, ám chỉ ở trong lần áo có súng, rồi sau đó bất ngờ nẫng chiếc máy ảnh đắt tiền đang treo lủng lẳng trên cổ Dalby. Sự kiện này đủ để thuyết phục hầu hết mọi người rằng, những người cộng sản nắm quyền kiểm soát hoàn toàn thành phố này sớm chừng nào thì tốt chừng ấy.

Vào cái ngày đầu tiên của kỷ nguyên mới ấy, không có người Mỹ nào trong toà đại sứ quán hầm hố như một pháo đài ở đại lộ Thống Nhất. Chỉ có những mảnh vỡ còn sót lại từ các cuộc di tản hỗn loạn trước đó và nhiều vụ cướp bóc sau đó. Không còn ai trong toà thị chính nhỏ vốn vẫn được trang trí cầu kỳ. Không có bất cứ đại biểu nào ở nhà hát opera cũ thời Pháp thuộc, nơi mà quốc hội vẫn họp thường kỳ. Và cũng chẳng có nốt vị tổng thống nào ở dinh tổng thống cả. Nguyễn Văn Thiệu đã rời bỏ đất nước.

Cựu Tổng thống chính quyền Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu. Ảnh tư liệu

Công cuộc chuyển giao quyền lực của ông ta với tướng Minh chỉ mới diễn ra trước đó một tuần. Tướng Minh đã nói với các sĩ quan Bắc Việt, người tiếp quản dinh tổng thống, rằng mình chỉ mới vừa được bàn giao quyền lực. “Ông chẳng thể từ bỏ cái mà ông không có”, họ đáp trả, và áp giải ông đi. Tướng Minh chỉ làm tổng thống được đúng 2 ngày.

Quyền lực của tướng Minh chỉ là ảo tưởng trong vài ngày, nhưng Sài Gòn lại sống trong lo lắng tưởng tượng suốt nhiều tuần. Trong những góc công viên, nơi người dân vẫn đưa con cái đi chơi cuối tuần, bạn có thể nghe hàng tá tin đồn với hàng tá cách lan truyền. “Người Pháp đang trở lại với hai sư đoàn”, “Người Mỹ sẽ sớm thả bom”, “Sẽ có một chính phủ liên minh”… Và cuối cùng sau những tin đồn đó, tâm lý phổ biển nhất dường như vẫn là “Chúng ta đều là người Việt Nam”, một cách biểu lộ ý nghĩ chấp chới giữa niềm tin và sự cam chịu. Với nhiều người thì đấy là cách suy nghĩ dễ chịu. Nhưng không phải với tất cả mọi người, đặc biệt là những người có quan hệ gần gũi với chính phủ hay người Mỹ. Họ lo sợ sự trả thù, hay ít nhất, họ sẽ bị gắn cho cái mác ô nhục vì sự phản bội trước đây của mình.

Với vài người như chúng tôi, chẳng có lý do gì cho những lo lắng kiểu đó, nhưng chúng tôi bị ảnh hưởng bởi thời cuộc đảo điên. “Nỗi lo sợ khiến Sài Gòn trở nên mất trí”, một phóng viên viết. Nhưng họ muốn trốn chạy, nhiều người đã làm vậy, trước hết là trên những chiếc máy bay vận tải, và cuối cùng là những chiếc trực thăng. Đó là một cuộc trốn chạy khổng lồ của gần một triệu người Việt muốn rời bỏ đất nước sau năm 75.

Những sĩ quan Mỹ phụ trách chiến dịch di tản lúc đấy đã phải đưa ra những lựa chọn đau đớn. Để không làm suy yếu lực lượng còn lại đang cố bảo vệ miền Nam Việt Nam, họ phải nhanh chóng hạn chế sự ra đi. Nhưng họ cũng phải đảm bảo lời hứa ngày càng nặng nề với những người ở lại. “Nếu điều đó xảy ra”, (về niềm tin rằng miền Nam Việt Nam vẫn tồn tại dưới hình thức nào đó), những người đó vẫn sẽ ra đi được vào giây phút cuối cùng. Nhưng họ không giữ được lời hứa. “Những tiếng khóc hoảng loạn của họ trên sóng radio của CIA vào ngày cuối cùng vẫn còn cào xé lương tâm tôi”, Frank Snepp, một trong những thành viên chiến dịch ở Sài Gòn lúc ấy đã viết nhiều năm sau đó.

Một ngày trước khi thất thủ, từ trên mái nhà của Caravelle, một trong hai khách sạn tiện nghi nhất thành phố, tôi và một phóng viên khác đã chứng kiến cảnh đoàn người xếp hàng chờ trong tuyệt vọng tại một điểm đón trên đỉnh một toà nhà gần đó. Một bi kịch chậm rãi và câm lặng, khi tiếng cánh quạt trực thăng bay xa dần, và từ từ hiểu ra rằng sẽ chẳng còn chiếc trực thăng Mỹ nào nữa, không còn.

Tại đại sứ quán Mỹ, sự tuyệt vọng có thể là bất cứ điều gì, trừ sự im lặng. Đám đông gào khóc bao vây nơi này, cầu xin để được vào khi mà lính thuỷ quân đang cố kéo những người có trọng quyền – những khuôn mặt da trắng, và đẩy những người không phải là da trắng ra xa.

Ngày hôm sau, xe tăng đến đầu tiên, nòng súng dài chĩa ra như mũi Pinocchio, tiến về trung tâm thành phố và phủ tổng thống. Kể từ khi tình hình trở nên lộn xộn, một số chiếc xe tăng đã bị mất. Chúng tôi nhìn thấy một chiếc quay trở lại, bánh răng nghiến ghê tai, tiến dần vào bệnh viện Pháp cũ, nơi khó có thể là mục tiêu quân sự. Không lâu sau, những chiếc xe tăng tiến qua cổng dinh thự. Chiếc tăng đầu tiên còn chở cả James Fenton, một nhà thơ, nhà báo hơi quái đản, cũng là phóng viên cuối cùng của tờ Washington Post còn ở lại Sài Gòn.

Khi những người lính mới tiến vào, các cựu binh trở nên mờ nhạt, thi thoảng dấy lên cảm giác cay đắng tột cùng. Chúng tôi nhìn thấy một đội cố tình bắn tất cả pháo sáng mà họ có như để ra hiệu – xanh, đỏ, trắng, rồi lại xanh – trước khi giải tán.

Những người lính mới, mà sau đó chúng tôi gọi là bộ đội, mặc trang phục màu xanh lá cây và đội chiếc mũ quét nhựa thông cũ kỹ. Trông họ khá thoải mái: chiến tranh đã kết thúc, họ chưa phải hy sinh, và họ là một phần của chiến thắng vinh quang. Vài ngày sau đó, đã có một cuộc diễu hành, rồi nhiều người rời Sài Gòn. Những người ở lại khá lịch thiệp và có chút e ngại. Họ cứ đinh ninh tất cả người ngoại quốc da trắng là người Nga. Một số người được mở rộng tầm mắt trước sự thịnh vượng của Sài Gòn, bị cuốn hút bởi những chiếc đồng hồ, thứ mà trong quân đội Bắc Việt chỉ có quan chức cấp cao mới được dùng, đặc biệt là những chiếc có chỉ ngày tháng. Họ gọi đó là “những chiếc đồng hồ có cửa sổ”. Nếu đi theo cặp, họ nắm tay nhau, trao nhau ánh mắt tò mò xúc động.

Nhưng rồi họ thể hiện mình là những người được huấn luyện nghiêm khắc. Khi một vài kẻ cực đoan bắn vào quân Bắc Việt ở gần công viên giữa dinh tổng thống và nhà thờ được xây bằng gạch đỏ của Sài Gòn, nhiều nhà báo được chứng kiến sự sắp xếp lại trật tự đội hình nhanh như múa ba lê vậy. Những anh bộ đội chỉ mới đang nằm ườn hút thuốc một phút trước đó đã nhanh chóng nằm sấp xuống và nổ súng đáp trả, nhanh chóng xoay sở và tiếp cận những kẻ tấn công. Đó là lời nhắc nhở rằng quãng thời gian chinh chiến của những anh lính du kích trong những quân đoàn thiếu thốn quân bị đã diễn ra quá lâu. Lính Bắc Việt tiến vào Sài Gòn với mọi thứ mà một đội quân hiện đại khao khát. Họ có binh giáp, pháo binh hùng hậu, ngoại trừ không quân. Nhưng mà lúc đấy, miền Nam Việt Nam cũng chả có nổi lực lượng không quân hùng mạnh nào.

(Còn tiếp)

Phan Sương (lược dịch)