Sản xuất thủy sản tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao, trung bình tăng 5,9%/năm (năm 2013 đạt 5,1%, 2014 đạt 6,8%, 2015 đạt 3,1%, Quí I năm 2016 tăng 2,3%).

Sau 3 năm tái cơ cấu trong lĩnh vực thủy sản, Bộ NN&PTNT đã chỉ đạo thực hiện rà soát và xây dựng 12 quy hoạch thủy sản, tập trung rà soát, xây dựng quy hoạch các đối tượng nuôi chủ lực. Chuyển dịch cơ cấu giữa khai thác với nuôi trồng và bảo vệ nguồn lợi thủy sản; tăng nhanh tỷ trọng sản phẩm chủ lực.

Cá tra, tôm là sản phẩm chủ lực của ngành thủy sản

Bộ chỉ đạo tập trung vào các đối tượng nuôi chủ lực như tôm sú, tôm thẻ chân trắng, tôm hùm, cá tra, cá rô phi, nhuyễn thể; điều chỉnh cơ cấu nuôi hợp lý, phát triển các vùng nuôi tôm, cá tập trung sử dụng công nghệ cao, công nghệ thân thiện với môi trường.

Xác định tôm, cá tra là sản phẩm chủ lực, đã phát triển diện tích nuôi tôm nước lợ đạt gần 700 ngàn ha (diện tích nuôi thâm canh năm 2015 đạt 22%, trong đó tôm thẻ chân trắng 100%, tôm sú 7-8%), sản lượng đạt gần 618 ngàn tấn; cá tra đạt 5 ngàn ha, sản lượng 1,2 triệu tấn (95% sản lượng do doanh nghiệp sản xuất). 

Tiếp tục hoàn thiện hệ thống quan trắc, cảnh báo môi trường và dịch bệnh; ứng dụng rộng rãi quy phạm thực hành nuôi trồng thủy sản tốt (VietGAP), nuôi trồng thủy sản có chứng nhận và đẩy mạnh liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị sản phẩm.

Về khai thác hải sản: Đã hoàn thành điều tra nguồn lợi thủy sản trên toàn bộ vùng biển làm căn cứ xây dựng quy hoạch khai thác đối với từng vùng biển, từng nghề khai thác; tiến tới dự báo ngư trường hạn ngắn (10 ngày), hạn tháng, hạn mùa.

Cơ cấu đội tàu đã có sự chuyển dịch mạnh. Trong 3 năm qua (2013-2015), số lượng tàu cá có công suất nhỏ, dưới 90 CV đã giảm trên 10 nghìn tàu, (chiếm 12,3% tổng số tàu cá cả nước); trong khi đó nhóm tàu có công suất từ 90 đến dưới 400 CV tăng 1,5%, nhóm tàu công suất từ 400CV trở lên tăng 21,6% so với năm 2013; số tàu làm nghề lưới kéo đã giảm 400 chiếc, lưới rê đã giảm 4,4 nghìn chiếc (chiếm 1,8% và 10,9%) so với năm 2013 đúng theo định hướng của Đề án tái cơ cấu. Trong khi đó, số tàu câu cá ngừ đại dương tăng 375 chiếc (+18%) đạt 1.600 tàu; tàu hậu cần dịch vụ tăng 483 chiếc (+27%), đạt 1.470 tàu.

Bộ đã chủ trì phối hợp với các địa phương triển khai thực hiện chính sách phát triển thủy sản (NĐ 67, NĐ 89, QĐ 48/2010... ). Các tỉnh đã phê duyệt được 56% tổng số tàu đóng mới theo chỉ tiêu 2.284 tàu, trong đó đã đóng mới 154 tàu (NĐ 67); đã đóng mới gần 9.000 tàu có công suất lớn với vốn huy động khoảng 45 ngàn tỷ đồng, năm 2015 đã có 24 ngàn lượt tàu tham gia hoạt động sản xuất trên các vùng biển xa, góp phần bảo vệ chủ quyền, an ninh trật tự trên biển (QĐ 48).

Việc tổ chức lại sản xuất trên biển theo hướng liên kết các tàu khai thác thành các tổ, đội sản xuất đã thu hút được đông đảo ngư dân do có hiệu quả rõ rệt. Đã có 4.400 tổ/đội sản xuất trên biển được thành lập và đi vào hoạt động với sự tham gia của khoảng 32 nghìn tàu cá và 192 nghìn ngư dân. Thành lập 66 nghiệp đoàn nghề cá cơ sở với 12.106 đoàn viên, 3.159 tàu cá tại 13/28 tỉnh thành phố ven biển.

Theo đánh giá của Bộ NN&PTNT, qua 3 năm thực hiện, nhiệm vụ tái cơ cấu đã được quán triệt thực hiện trong mọi hoạt động; các mục tiêu, định hướng của tái cơ cấu đã kịp thời được bổ sung vào quy hoạch phát triển ngành; nhiệm vụ triển khai cụ thể được xây dựng trong kế hoạch công hàng năm và trung hạn; công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện bám sát thực tiễn sản xuất, có sự phối hợp giữa trung ương và địa phương.

 Trong nuôi trồng thủy sản, dịch bệnh được kiểm soát, năng suất trên đơn vị diện tích có xu hướng tăng. Cơ cấu đối tượng nuôi có sự thay đổi tương đối rõ nét; tiếp tục đa dạng hóa đối tượng và phương pháp nuôi để khai thác cơ hội thị trường; khuyến khích nuôi công nghiệp, áp dụng công nghệ cao, quy trình thực hành nuôi tốt (GAP) phù hợp quy chuẩn quốc tế; ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng nuôi thâm canh ở Đồng bằng sông Cửu Long, các khu vực ven biển Trung bộ. Công tác quản lý chất lượng và cung ứng giống thủy sản cơ bản đi vào nề nếp.

Trong khai thác thủy sản, số lượng tàu cá công suất nhỏ giảm, tàu công suất lớn, tham gia khai thác xa bờ tăng theo định hướng quy hoạch đến năm 2020. Về phía các cơ quan Bộ, đã tập trung xây dựng và ban hành các cơ chế, chính sách phát triển khai thác và thực hiện Đề án tái cơ cấu. Về phía các tỉnh, đã tập trung nguồn lực tích cực hướng dẫn, triển khai tạo nên sự đồng bộ giữa trung ương và địa phương trong phối hợp kế hoạch hành động tái cơ cấu ngành thủy sản.

 Kết quả sản xuất thủy sản tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao, trung bình tăng 5,9%/năm (năm 2013 đạt 5,1%, 2014 đạt 6,8%, 2015 đạt 3,1%, Quí I năm 2016 tăng 2,3%).

Diệu Thùy