Sử dụng facebook nói xấu, vu khống lãnh đạo có thể bị phạt 7 năm tù

Hải Ngọc

“Hành vi bôi nhọ danh dự nhân phẩm của người khác trên mạng xã hội một cách nghiêm trọng có thể bị xử lý về hình sự về các tội vu khống, tội làm nhục người khác với mức phạt cao nhất có thể lên tới 7 năm tù”.

Việc một số cá nhân sử dụng mạng xã hội để nói xấu, vu khống các lãnh đạo cơ quan chức năng bị xử phạt xảy ra khá nhiều trong thời gian gần đây. Để hiểu rõ hơn về hình thức xử lý những hành vi này, PV Báo điện tử Infonet đã trao đổi với luật sư Thùy Dương - Văn phòng Luật sư Trương Anh Tú (Đoàn Luật sư TP Hà Nội).

Luật sư Thùy Dương.

Luật sư Thùy Dương cho biết: “Những người có hành vi sử dụng mạng xã hội để nói xấu, vu khống lãnh đạo cơ quan chức năng hay nói xấu, vu khống bất kỳ cá nhân nào có thể bị xử phạt theo Nghị định số 174/2013/NĐ-CP ngày 03/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi pham hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện.

Hành vi cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác sẽ bị xử phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng (Điểm g khoản 3 Điều 66).

Ngoài việc bị xử phạt hành chính, bồi thường dân sự, những hành vi bôi nhọ danh dự nhân phẩm của người khác trên mạng xã hội một cách nghiêm trọng có thể bị xử lý hình sự về các tội vu khống, tội làm nhục người khác với mức phạt cao nhất có thể lên tới 7 năm tù”.

Tình trạng sử dụng mạng xã hội để nói xấu, vu khống lãnh đạo các đơn vị ngày càng phổ biến.

Theo luật sư Thùy Dương, tại Điều 34 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ”. BLDS cũng quy định, khi quyền dân sự của một chủ thể bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ theo quy định của Bộ luật này hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận quyền dân sự của mình; buộc chấm dứt hành vi vi phạm; buộc xin lỗi, cải chính công khai; buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; buộc bồi thường thiệt hại.

Luật sư Thùy Dương nhận định: “Người nào tung thông tin bôi nhọ, vu khống xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của một tổ chức, cá nhân cụ thể thì người bị xâm phạm có quyền khởi kiện ra Tòa để yêu cầu người tung tin đồn phải xin lỗi và bồi thường thiệt hại đồng thời còn có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân, tổ chức.

Khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật, người bị hại và bất cứ ai cần thu thập chứng cứ và làm đơn tố giác đến cơ quan Công an để kịp thời có biện pháp xử lý, nhằm góp phần làm trong sạch, lành mạnh môi trường mạng xã hội”.

Tội làm nhục người khác - Điều 121 BLHS1999:

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

Tội vu khống - Điều 122 BLHS1999:

“1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với nhiều người;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người thi hành công vụ;

e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Cũng theo luật sư Thùy Dương, tại Khoản 1, Điều 5 Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/07/2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng có quy định: Nghiêm cấm các hành vi “Đưa thông tin xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân” (điểm d); “Giả mạo tổ chức, cá nhân và phát tán thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” (điểm e).

Ngoài ra, nếu hành vi có dấu hiệu của tội phạm hình sự thì có thể bị truy tố theo các Điều 121 BLHS 1999 – Tội làm nhục người khác; Điều 122 BLHS 1999 – Tội vu khống như đã phân tích bên trên.

Trên thực tế những vụ việc tung hình ảnh, thông tin với mục đích bêu xấu, hạ nhục các lãnh đạo nói chung và các cá nhân khác trên mạng xã hội đã gióng lên hồi chuông báo động. Bởi vậy, bên cạnh các chế tài sẵn có để xử lý những người có hành vi vi phạm và thực hiện răn đe nói chung, đã đến lúc xã hội và các cơ quan pháp luật phải tăng cường cảnh báo, đồng thời các chủ nhân của các trang mạng xã hội cũng phải tự nhận thức được các hành vi nguy hiểm khi cố tình lợi dụng các diễn đàn, mạng xã hội nhằm mục đích bôi nhọ danh dự, nhân phẩm cá nhân, tổ chức, xâm hại đến các quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ.

Chỉ có như vậy mới giảm thiểu được mặt trái của mạng xã hội và bớt đi các vụ phạm pháp phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi vi phạm pháp luật trong thời đại công nghệ thông tin phát triển như vũ bão hiện nay.

Luật sư Thù Dương khuyến cáo: Mỗi người dùng internet đều phải có trách nhiệm đối với những phát ngôn của mình trên mạng xã hội, nếu không khi có đủ các dấu hiệu vi phạm thì sẽ bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Danh dự và nhân phẩm là quyền bất khả xâm phạm của con người, được quy định trong Hiến pháp và pháp luật. Nhưng trong thời điểm hiện nay cùng với sự phát triển của CNTT, hiện tượng dùng mạng xã hội để xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của công dân đang thực sự đáng lo ngại.

Tuy nhiên, việc xử lý các hành vi nói xấu người khác trên mạng xã hội phải căn cứ trên các chế tài sẵn có (về dân sự, hình sự) do đúng cơ quan có thẩm quyền xử lý, nếu không rất có thể sẽ gây tác dụng ngược bởi các thế lực thù địch chưa bao giờ từ bỏ thủ đoạn chống phá Nhà nước bằng nhiều hình thức tinh vi. Trước đây là truyền hình, báo chí, giờ đây là mạng internet.

Việt Nam là một trong những nước có số lượng người sử dụng internet rất lớn, đặc biệt thế hệ trẻ. Chúng cũng biết được điều này, do vậy chúng lợi dụng internet để tăng cường các thủ đoạn vu khống, bôi nhọ hình ảnh đất nước, hình ảnh lãnh đạo cấp cao của nước ta. Do đó, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội, mỗi cá nhân luôn phải có ý thức và trách nhiệm đối với các thông tin, phát ngôn hay hình ảnh mà mình đưa lên là thể hiện trách nhiệm đối với chính mình, với gia đình, với đất nước và toàn xã hội.

cùng chuyên mục
Kéo xuống để xem tiếp nội dung
Xem thêm trên infonet