“Tôi đồng tình với 5 quy định thu hồi đất trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992. Quy định như vậy sẽ đảm bảo quyền lợi cho người dân", đó là ý kiến của đại biểu Quốc hội Đinh Xuân Thảo, Viện trưởng Viện nghiên cứu lập pháp khi trao đổi với PV Infonet sáng 24/1.

 

 

 Đại biểu Đinh Xuân Thảo trao đổi với PV infonet bên hành lang kỳ họp thú 4, Quốc hội khóa XIII.
Ảnh. Xuân Hải.

Tại Khoản 3, Điều 58, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 được đưa ra lấy ý kiến của nhân dân quy định: “Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân sử dụng có bồi thường theo quy định của pháp luật trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các dự án phát triển kinh tế - xã hội”.

Ông Thảo cho rằng, quy định như vậy sẽ phù hợp với dự án Luật Đất đai đang được đưa ra sửa đổi, trong đó nêu rõ việc bồi thường đất khi thu hồi phải sát giá thị trường, tuy nhiên khi Luật Đất đai (sửa đổi) được thông qua và triển khai thì cần có một tổ chức độc lập đứng ra để định giá đất.

Trước đây, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp chỉ quy định lý do để thu hồi đất là trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia thì Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân sử dụng có đền bù theo quy định của pháp luật. Như vậy, theo dự thảo ban đầu ở đây quy định là chỉ thu hồi trong 3 trường hợp vì mục đích quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia. Trong khi đó, tại Dự thảo về Luật đất đai sửa đổi quy định ngoài 3 lý do đó, còn thêm 2 lý do thu hồi nữa là mục đích phát triển lợi ích công cộng và điều kiện phát triển kinh tế xã hội, điều này đã có sự vênh nhau. Tuy nhiên, sau đó qua góp ý của các đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ 4 vừa qua, những quy định trên đã được thống nhất trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp và đưa ra lấy ý kiến nhân dân thành 5 quy định thu hồi đất như vậy là phù hợp.

Ông Thảo cũng tán thành với chế định về sở hữu đất đai tại Điều 58 và Điều 59 của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước là đại diện thuộc sở hữu và thống nhất quản lý”

Ông Thảo phân tích, chế định sở hữu toàn dân về đất đai là phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, thay mặt toàn dân quản lý và phân bổ đất đai, đảm bảo điều tiết quá trình phân phối địa tô phù hợp với sở hữu toàn dân, bảo đảm công bằng, ngăn ngừa khả năng để một số ít người chiếm dụng phần lớn địa tô một cách bất hợp lý, tạo điều kiện để cho người dân được tiếp cận bình đẳng và trực tiếp đối với đất đai và xóa bỏ tình trạng một nhóm người dùng độc quyền sở hữu đất đai để bóc lột người sử dụng đất.

Chế định sở hữu đất đai toàn dân là sự ghi nhận thành quả cách mạng về đất đai của dân tộc ta, nó phù hợp với lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập chủ quyền và dù đất đai là do tự nhiên sinh ra, song vốn đất đai quý báu ngày nay mà có được là do công sức, mồ hôi, xương máu của biết bao thế hệ người Việt Nam tạo lập nên, vì vậy nó phải được thuộc về sở hữu của toàn dân.

Việc thiết lập chế định sở hữu toàn dân về đất đai góp phần vào việc giữ ổn định quan hệ đất đai, tránh gây những xáo trộn không cần thiết và duy trì sự ổn định về chính trị, xã hội là tiền đề rất quan trọng để phát triển đất nước.

Chế định sở hữu toàn dân về đất đai hiện hành không làm hạn chế đến quyền của tổ chức, cá nhân sử dụng đất. Vì họ được quy định có các quyền sử dụng mà nội hàm quyền sử dụng đất đai theo quy định của pháp luật Việt Nam cũng gần như đầy đủ các quyền của một chủ sở hữu đất đai ở các nước mà có đa sở hữu về đất đai. “Xét dưới khía cạnh quản lý đất đai thì đi đôi với việc giao đất, cho thuê đất và công nhận quyền sử dụng đất ổn định lâu dài của người sử dụng đất thì Nhà nước đã công nhận quyền sử dụng đất là tài sản của người sử dụng đất và trao cho người sử dụng đất thực hiện các quyền giao dịch tài sản đối với các quyền sử dụng đất, tiến hành việc cấp giấy chứng nhận, xác nhận bảo hộ quyền hợp pháp cho họ”, ông Thảo nhấn mạnh.

Ông Thảo cũng cho rằng, quy định này có ưu điểm quan trọng là giữ được ổn định của quan hệ đất đai, ngăn ngừa những xung đột, phức tạp về mặt xã hội, mặt lịch sử có thể nảy sinh. Đồng thời quy định như vậy cũng phù hợp với chủ trương của Đảng là tiếp tục đổi mới chính sách pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Việc tiếp tục kế thừa sở hữu toàn dân về đất đai của Hiến pháp 1992 hiện hành như trong dự thảo sửa đổi là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam.

Xuân Hải