Một trong những nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng là do các thông tin về khách hàng được quản trị còn rời rạc và không kịp thời để phục vụ cho quản lý và điều hành.

Hiện nay, Việt Nam đã có Luật phòng, chống rửa tiền số 07/2012/QH13 ngày 18/06/2013, Nghị định số 116/2013/NĐ-CP ngày 04/10/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống rửa tiền, Thông tư số 35/TT-NHNN ngày 31/12/2013 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) hướng dẫn thực hiện một số quy định về phòng chống rửa tiền.

Thiếu kỹ năng nhận diên dấu hiệu

Dựa trên các văn bản của các cơ quan có thẩm quyền, các ngân hàng cũng đã ban hành các quyết định, quy chế về phòng, chống rửa tiền trong nội bộ hệ thống mình.

Tuy nhiên, quy định của các TCTD mới chỉ dừng lại ở việc bắt buộc báo cáo bằng văn bản về Cục Phòng, chống rửa tiền thuộc NHNN và trụ sở chính của các ngân hàng.

Một thực trạng hiện nay ở các ngân hàng là nhiều cán bộ trực tiếp giao dịch với khách hàng chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc báo cáo các giao dịch đáng ngờ nên không báo cáo, thậm chí thiếu kiến thức và kỹ năng nhận diện dấu hiệu các giao dịch đáng ngờ của khách hàng.

Bộ phận kiểm tra kiểm soát, kiểm toán của ngân hàng cũng chưa chú trọng quan tâm nhiều đến việc kiểm tra nội dung các ngân hàng có báo cáo đầy đủ về các giao dịch đáng ngờ hay không.

Bộ phận quản lý của các ngân hàng chưa đưa ra được các biện pháp chế tài đủ sức răn đe để bắt buộc bộ phận trực tiếp giao dịch với khách hàng phải báo cáo về các giao dịch đáng ngờ.

Đặc biệt các ngân hàng chưa chú trọng quan tâm đến việc xây dựng phần mềm quản lý, theo dõi các giao dịch đáng ngờ mang tính hệ thống và liên kết để phục vụ cho việc thu thập thông tin của các phòng ban nghiệp vụ và ban lãnh đạo về khách hàng, đặc biệt là bộ phận làm công tác tín dụng, thanh toán quốc tế.

Đây là một trong những nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng do vấn đề quản trị rủi ro, quản trị khách hàng của các NHTM ở Việt Nam chưa được quan tâm đúng mực. Các thông tin về khách hàng được quản trị còn rời rạc và không kịp thời để phục vụ cho quản lý và điều hành.

Theo báo cáo của Cục Phòng, chống rửa tiền, năm 2013, cơ quan này đã nhận được hơn 700 báo cáo giao dịch đáng ngờ và căn cứ vào kết quả xử lý thông tin, báo cáo đã chuyển giao thông tin liên quan đến rửa tiền cho cơ quan điều tra có thẩm quyền để xử lý.

Ảnh: Internet

12 dấu hiệu nhận biết

Theo Luật Phòng, chống rửa tiền đã đưa ra 12 tiêu chí để nhận biết dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực ngân hàng.

Dấu hiệu đầu tiên là có sự thay đổi đột biến trong doanh số giao dịch trên tài khoản; tiền gửi vào và rút ra nhanh khỏi tài khoản; doanh số giao dịch lớn trong ngày nhưng số dư tài khoản rất nhỏ hoặc bằng không.

Các giao dịch chuyển tiền có giá trị nhỏ từ nhiều tài khoản khác nhau về một tài khoản hoặc ngược lại trong một thời gian ngắn; tiền được chuyển qua nhiều tài khoản; các bên liên quan không quan tâm đến phí giao dịch; thực hiện nhiều giao dịch, mỗi giao dịch gần mức giá trị lớn phải báo cáo.

Tiếp đó là dấu hiệu về sử dụng thư tín dụng và các phương thức tài trợ thương mại khác có giá trị lớn, tỷ lệ chiết khấu với giá trị cao so với bình thường.

Khách hàng mở nhiều tài khoản tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài ở khu vực địa lý khác nơi khách hàng cư trú, làm việc hoặc có hoạt động kinh doanh.

Hoặc tài khoản của khách hàng không giao dịch trên một năm, giao dịch trở lại mà không có lý do hợp lý; tài khoản của khách hàng không giao dịch đột nhiên nhận được một khoản tiền gửi hoặc chuyển tiền có giá trị lớn, cũng là dấu hiệu đáng ngờ.

Dấu hiệu nữa là khi khách chuyển số tiền lớn từ tài khoản của doanh nghiệp ra nước ngoài sau khi nhận được nhiều khoản tiền nhỏ được chuyển vào bằng chuyển tiền điện tử, séc, hối phiếu.

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển tiền ra nước ngoài ngay sau khi nhận được vốn đầu tư hoặc chuyển tiền ra nước ngoài không phù hợp với hoạt động kinh doanh; doanh nghiệp nước ngoài chuyển tiền ra nước ngoài ngay sau khi nhận được tiền từ nước ngoài chuyển vào tài khoản mở tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.

Đặc biệt, khi khách hàng thường xuyên đổi tiền có mệnh giá nhỏ sang mệnh giá lớn.

Thêm vào đó là giao dịch gửi tiền, rút tiền hay chuyển tiền được thực hiện bởi tổ chức hoặc cá nhân liên quan đến tội phạm tạo ra tài sản bất hợp pháp đã được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng.

Khách hàng yêu cầu vay số tiền tối đa được phép trên cơ sở bảo đảm bằng hợp đồng bảo hiểm đóng phí một lần ngay sau khi thanh toán phí bảo hiểm, trừ trường hợp tổ chức tín dụng yêu cầu;

Và dấu hiệu về thông tin về nguồn gốc tài sản sử dụng để tài trợ, đầu tư, cho vay, cho thuê tài chính hoặc uỷ thác đầu tư của khách hàng không rõ ràng, minh bạch.

Cuối cùng là thông tin về nguồn gốc tài sản bảo đảm của khách hàng xin vay vốn không rõ ràng, minh bạch.

Nguyễn Hải