Theo các doanh nghiệp khai thác khoáng sản, nếu tiếp tục tăng thuế tài nguyên sẽ khiến doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, thậm chí phá sản.

Bộ Tài chính đang soạn thảo để trình Chính phủ ban hành Biểu mức thuế suất thuế tài nguyên. Mức thuế suất với các loại tài nguyên được đề xuất tăng từ 2-3%, cao nhất lên tới 6% với kỳ vọng có thể bảo vệ môi trường, đảm bảo thu ngân sách. Cụ thể như sắt tăng từ 12% lên 14%, titan từ 6% lên 8%, đá hoa trắng từ 9% lên 15%, vàng từ 15 lên 17%...

Bộ Tài chính đề nghị tăng thuế suất thuế tài nguyên với than lên 10% và 12%

Tuy nhiên, tại hội thảo lấy ý kiến doanh nghiệp hoàn thiện Dự thảo Nghị quyết về biểu thuế suất thuế tài nguyên diễn ra vào ngày 8/9 do Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức, các doanh nghiệp đều gay gắt phản đối đề xuất này.

Ông Vũ Hồng, Phó Tổng giám đốc Công ty TNHH Khai thác Chế biến Khoáng sản Núi Pháo cho rằng đề xuất lần này đã gây ra nhiều quan ngại và có thể dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực mà cơ quan soạn thảo có thể chưa lường hết được.

Theo ông Hồng, việc tăng thuế suất tài nguyên làm tăng chi phí khai thác khoáng sản, khiến doanh nghiệp chỉ tập trung khai thác phần quặng giàu, bỏ lại quặng nghèo gây lãng phí tài nguyên. Hiện nay, gánh nặng chi phí thuế của công ty Núi Pháo lên tới 30% chi phí hoạt động trực tiếp, trong đó 50% là chi phí thuế tài nguyên. Tăng thuế chỉ gây khó khăn cho các doanh nghiệp chân chính, khai thác hợp pháp, kích thích khai thác trái phép.

Ngoài ra, tăng thuế suất có thể làm tăng thu ngân sách ngắn hạn nhưng lại làm giảm thu ngân sách trong dài hạn do tổng lượng khoáng sản khai tác giảm. Bên cạnh đó, chính sách thuế thay đổi liên tục trong một thời gian ngắn khiến các doanh nghiệp không muốn đầu tư sâu vào chế biến khoáng sản mà chỉ tập trung vào khai thác nhỏ lẻ, bán khoáng sản thô. Với sức ép về cắt giảm chi phí do hậu quả của việc tăng thuế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến người lao động, ngân quỹ địa phương cũng bị cắt giảm…

“Theo thống kế số liệu của các nước trong khu vực Đông Nam Á và một số nước có nền công nghiệp khoáng sản tương tự, Việt Nam là nước có khung thuế suất cao trên thế giới, trong khi Trung Quốc chỉ có thuế suất khoáng sản từ 5- 10%, Úc chỉ từ 1,6% đến 7,5%”, ông Hồng nói.

Còn bà Trần Thị Như Trang, Đại diện công ty CP đầu tư khoáng sản An Thông cho biết: Tổng số thu thuế tài nguyên với sắt khoảng 142 tỷ đồng thì công ty An Thông đã chiếm 50%. Đó là chưa tính đến phí bảo vệ môi trường và cấp quyền tài nguyên khai thác.

Theo bà Trang, giá quặng sắt từ 2012 đến nay đã giảm hơn 50% nhưng thuế tài nguyên tăng từ 10- 12% lên 14%. Nếu thuế tiếp tục tăng thuế phí thì toàn bộ số tiền xây dựng đầu tư cơ bản không thể đem lại lợi nhuận

“Hiện tại chúng tôi có 2 mỏ, 3 nhà máy thì 1 mỏ đã dừng, 1 nhà máy đóng cửa, 1 nhà máy hoạt động cầm chừng. Còn duy nhất 1 nhà máy sản xuất. Chỉ cần tăng thêm bất kỳ thuế, phí nào sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của công ty”, bà Trang nói.

Bà Trang còn cho biết thêm “Từ 900 lao động giờ công ty chỉ còn hơn 400 người. Hơn 400 người đang trông chờ mức thuế lần này tăng lên như thế nào. Chúng tôi nghĩ rằng tăng thuế tài nguyên cần có lộ trình 5 năm để doanh nghiệp có sự chuẩn bị”.

Ông Evan Spenser, Tổng giám đốc công ty TNHH Mỏ Nikel Bản Phúc cho biết: doanh nghiệp này đầu tư 130 triệu USD vào Việt Nam từ năm 2007. Tuy nhiên thời gian này thuế suất xuất khẩu, tài nguyên, phí bảo vệ môi trường, cấp quyền khai thác tăng cao. Theo ông Evan Spenser, tổng gánh nặng thuế của công ty đã tăng 218% so với giai đoạn 2007- 2014, số thuế nộp đã tăng thêm 76 triệu USD. “Chúng tôi bị lỗ 35 triệu USD khi thay đổi chính sách thuế, tài khóa. Mức thuế này là hình phạt với công ty làm ăn chính đáng và chỉ khuyến khích các doanh nghiệp khai thác trái phép”, ông Evan Spenser nói.

“Chúng tôi đã mời một số công ty nước ngoài sang thăm và họ nói rằng Việt Nam là một nơi tuyệt vời để đầu tư nhưng chính sách thuế, tài khóa đang làm họ sợ”, ông Evan Spenser nói thêm.

Ông Nguyễn Văn Biên, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam cho rằng mức tăng thuế tài nguyên khá cao. Đặc biệt mức thuế suất tài nguyên với than từ 2010 đến nay tăng 2 lần.

“Trong bối cảnh khó khăn như hiện nay chúng tôi mong muốn nhà nước nếu không giảm được thì cũng nên giữ nguyên mức thuế hiện tại. Nếu điều chỉnh như dự thảo, có thể thu ngân sách sẽ tăng nhưng chỉ 1 năm sau thôi, chắc chắn sẽ không thể duy trì vì doanh nghiệp không có lãi”, ông Biên kiến nghị.

PGS.TS Nguyễn Cảnh Nam, Hội Khoa học và Công nghệ Mỏ Việt Nam cho rằng mức thuế suất thuế tài nguyên đối với các loại khoáng sản (chỉ trừ bô xít, nikel) đều tăng từ 2% trở lên là đi ngược lại với tinh thần của chính sách coi tài nguyên khoáng sản, việc tăng thuế chỉ mục tiêu duy nhất làm tăng thu ngân sách nhà nước. Theo ông Nam, như vậy làm “tham đĩa bỏ mâm”, doanh nghiệp sẽ chỉ khai thác trữ lượng có chất lượng cao, điều kiện khai thác thuận lợi.

“Thay vì tận thu tài chính cho tăng thu ngân sách chuyển sang khuyến khích tận thu tối đa tài nguyên phục phụ phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ mỗi trường theo tinh thần bỏ con săn sắt, bắt con cá rô, tương tự như chính sách miễn thị thực vừa qua hay bài học từ giá dầu thô giảm”, ông Nam nêu ý kiến.

Diệu Thùy