Nhiều người cho rằng họ mới phát hiện ung thư vú và có thể do những tác nhân nào đó mới bắt gặp. Tuy nhiên các chuyên gia khẳng định ung thư vú tồn tại 8 – 10 năm mới có biểu hiện triệu chứng.

Ung thư vú phát triển hàng chục năm.

Tế bào ác tính phát triển hàng chục năm

Ung thư vú là căn bệnh phổ biến ở phụ nữ, PGS Phạm Duy Hiển – Nguyên PGĐ Bệnh viện K Hà Nội cho biết, tại Việt Nam những thống kê của đầu những năm 2000 tỷ lệ này vào khoảng 16/100.000 phụ nữ thì hiện nay con số này đã là 29/100.000. 

Các tế bào chế tiết sữa hoặc tế bào lót ống dẫn sữa bị biến đối thành tế bào ung thư do đột biến gen không sửa chữa bởi các yếu tố nguy cơ ngoại sinh và /hoặc các yếu tố nội sinh. Những tế bào ung thư này tạo nên 2 thể thường gặp nhất là ung thư thể tiểu thuỳ và thể ống xâm nhập. 

Các tế bào ung thư này cũng như các tế bào ung thư các cơ quan khác có các đặc điểm là: phát triển bằng phương pháp nhân đôi như tế bào lành nhưng không được kiểm soát, phát triển vô hạn độ, tế bào được sinh ra không thực hiện chức năng của tế bào lành mà lại tiết ra các chất có tác dụng kích thích tăng sinh mạch máu, các chất hoại tử u...; tế bào già nhưng không chết theo chương trình định sẵn; có khả năng xâm lấn hay xâm nhập vào các cơ quan tổ chức lân cận; và có khả năng tách khỏi khối u nguyên phát chui vào hệ thống tuần hoàn chung hoặc hệ bạch mạch đi đến định cư và phát triển ở một hoặc nhiều cơ quan khác trong cơ thể hoặc sang vú đối bên (di căn). 

PGS Hiển cho biết ung thư vú có thời kỳ "tiền lâm sàng" kéo dài tới 8-10 năm, thời gian để một tế bào ung thư vú đầu tiên trở thành một khối u có đường kính 1cm (tương đương 1 tỷ tế bào) để có thể sờ thấy. Thời kỳ này thường phải "khám sàng lọc" mới phát hiện được. Từ 1cm thành khối u có đường kính 2cm chỉ cần 4 tháng đây là thời gian cả bệnh nhân và thầy thuốc có thể phát hiện được bằng sờ nắn, khám tuyến vú đúng quy cách. 

Từ khối u có đường kính 2cm phát triển thành 4cm cần thời gian ngắn hơn nữa tuỳ thuộc có bao nhiêu % tế bào ung thư tham gia vào quá trình phân chia (quá trình nhân đôi). Và các nhà nghiên cứu cho rằng tế bào ung thư phân chia theo hàm số mũ. 80-90% bệnh nhân ung thư vú phát hiện có u.

Khi khối u to xâm lấn xuống sâu vào cơ thành ngực, thành ngực làm khối u cố định không di động được khi thăm khám. Khối u ở xung quanh núm vú sẽ kéo tụt núm vú. Khối u xâm lấn ra ngoài da dính vào da làm da thay đổi màu da hoặc hình "sần da cam".

Ung thư vú thể viêm gây tình trạng sưng, nóng, đỏ, đau một vùng hay toàn bộ tuyến vú. "Thể" này có tiên lượng rất nặng có thể tử vong trong một vài tháng nếu không được điều trị đúng phương pháp. Ngoài ra rất có thể phát hiện tình trạng chảy dịch núm vú đặc biệt dịch màu hồng hoặc dịch máu. 

Trong một số trường hợp xuất hiện hạch nách. Có một số trường hợp u vú có thể nhỏ nhưng hạch nách khá to gây chèn ép thần kinh, gây đau dọc mặt trong cánh tay lan xuống ngón tay. 

Có trường hợp sờ thấy hạch dọc mặt trong cánh tay. Những trường hợp đến muộn khối u to xâm lấn da gây vỡ, chảy dịch, máu ra ngoải. Có một số trường hợp di căn xương (gây đau xương vùng di căn), di căn phổi (ho máu, tức ngực)... ngay khi được chẩn đoán ung thư vú. 

Cảnh báo từ thuốc tránh thai

Theo PGS Hiển đến nay nguyên nhân gây ung thư vú vẫn chưa được tác định. Ngoài các yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, rượu bia, các chuyên gia còn cảnh báo ung thư vú có thể do sử dụng thuốc tránh thai nhiều năm. 

PGS Nguyễn Duy Hiển – Nguyên Phó Giám đốc Bệnh viện K cho biết thuốc tránh thai đường uống là tác nhân gây ung thư vú ở chị em phụ nữ. Những người dùng thuốc tránh thai đường uống kéo dài, thường xuyên trên 5 năm làm tăng khả năng mắc ung thư vú lên 1,5 lần, trên 10 năm tăng lên 2 lần so với người không dùng. 

Nhưng nếu dừng không dùng sau 5 năm khả năng mắc bệnh trở lại như người bình thường. Nạo phá thai dường như không làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú. Phụ nữ dùng nội tiết hỗ trợ ở tuổi tiền mãn kinh trên 5 năm ( Estrogene+Prolactine) cũng có nguy cơ cao hơn.

Ngoài ra, phụ nữ có kinh nguyệt sớm (trước 13 tuổi với phụ nữ Việt Nam, trước 12 tuổi với phụ nữ Mỹ) và tắt kinh muộn (sau 50 và sau 55 tuổi tương ứng) có khả năng mắc ung thư vú cao hơn người khác. Cũng như vậy với phụ nữ có con đầu lòng sau 30 tuổi và không sinh con lần nào hoặc không cho con bú có tỷ lệ ung thư vú cao hơn. 

Ung thư vú là loại ung thư có mối liên quan với di truyền khá cao. Có đến 5-10% số bệnh nhân ung thư vú liên quan đến gen di truyền từ thế hệ này sang thế hệ sau.

Phương Thuý