70 năm đã trôi qua, song bài học về sự tích cực chuẩn bị lực lượng mọi mặt cùng nghệ thuật chớp thời cơ của Đảng trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vẫn vẹn nguyên giá trị.

Cách mạng Tháng Tám thành công vang dội và sự ra đời của  nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính là một trong những thắng lợi nổi bật vĩ đại nhất của cách mạng Việt Nam thế kỷ XX. Cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền là kết quả của tầm nhìn chiến lược, những quyết định sáng suốt, đúng đắn cũng như nghệ thuật chớp thời cơ ngàn năm có một của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Vào những ngày cuối tháng 8 lịch sử, từng dòng người đổ về với Thủ đô Khu giải phóng Tuyên Quang mỗi ngày một đông hơn. Dù 70 năm đã trôi qua, nhưng tại khu lán Nà Nưa, nơi ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dường như vẫn vang vọng đâu đây lời kêu gọi: “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Những nén tâm hương được thắp lên, thể hiện sự thành kính và lòng biết ơn của mỗi người dân với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngược dòng lịch sử, mọi người say sưa kể cho nhau nghe về những chiến công, những kỳ tích trong cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ngày này 70 năm trước.

Vì sao Tuyên Quang là ATK?

Một trong những quyết định đúng đắn, sáng suốt phản ánh tầm nhìn và tư duy kiệt xuất, sự nhạy bén cách mạng của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là vấn đề xây dựng và phát triển căn cứ địa cách mạng. Về điều này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Muốn khởi nghĩa phải có căn cứ địa, muốn kháng chiến phải có hậu phương”. Từ 15 - 20/4/1945, Hội nghị quân sự Bắc Kỳ họp tại Hiệp Hòa (Bắc Giang) đã chọn Châu Tự Do (Tuyên Quang) làm căn cứ địa, trung tâm lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Vậy vì sao Tuyên Quang lại được chọn làm Thủ đô Khu giải phóng?

Lý giải về điều này, tại cuộc hội thảo quy mô lớn ở Tuyên Quang nhân kỷ niệm 70 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, TS. Đinh Ngọc Hoa, Phó Giám đốc Học viện Chính trị Công an nhân dân cho rằng: Tuyên Quang chính là nơi có địa thế chiến lược có thể đánh, lui, có thể giữ và có đường giao thông liên lạc thuận tiện. Từ Tuyên Quang có thể dễ dàng lui về Bắc Kạn, Cao Bằng, Thái Nguyên rồi sang Yên Bái, lên Hà Giang, khi Nam tiến cũng dễ dàng mở rộng  xuống Phú Thọ, Vĩnh Phúc. 

Việc chuyển địa điểm từ Pắc Bó (Cao Bằng) về Tân Trào (Tuyên Quang) là một quyết định đặc biệt sáng suốt, dũng cảm, táo bạo.

Bên cạnh đó, Tuyên Quang cũng là nơi có cơ sở cách mạng sớm, có phong trào cách mạng của quần chúng phát triển mạnh mẽ. Từ những năm 30 của thế kỷ XX, các phong trào đấu tranh của nhân dân Tuyên Quang chống chế độ cai trị hà khắc của thực dân Pháp và phong kiến tay sai phát triển mạnh vì mục tiêu giải phóng dân tộc. Xứ ủy Bắc Kỳ đã quyết định thành lập Chi bộ Đảng ở Tuyên Quang để lãnh đạo phong trào cách mạng địa phương. Sau khi Nhật đảo chính lật đổ Pháp (9/3/1945), Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã phát động phong trào kháng Nhật cứu nước, làm tiền đề tiến lên tổng khởi nghĩa. Phong trào cách mạng ở Tuyên Quang lúc đó phát triển mạnh mẽ với những cuộc mít tinh, biểu tình nhằm biểu dương lực lượng, tập dượt cho quần chúng chuẩn bị tổng khởi nghĩa.

Một điều quan trọng khác khiến Tuyên Quang được “chọn mặt gửi vàng” vì đây là vùng đất có điều kiện thuận lợi để tự cấp, tự túc lương thực, chuẩn bị và đáp ứng được nhu cầu thiết yếu về hậu cần tại chỗ cho lực lượng cách mạng. Với vị trí chiến lược hiểm yếu, Tuyên Quang có đầy đủ các yếu tố cần thiết của một căn cứ chiến lược, cơ động, vững chắc, có thể đảm bảo an toàn cho cơ quan đầu não của Đảng và các lực lượng cách mạng, trở thành “mái nhà an toàn” cho các lực lượng kháng chiến. 

Việc chuyển địa điểm từ Pắc Bó (Cao Bằng) về Tân Trào (Tuyên Quang) là một quyết định đặc biệt sáng suốt, dũng cảm, táo bạo, rất kịp thời của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khi thời cơ bắt đầu mở ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giao Đại tướng Võ Nguyên Giáp dự thảo nghị quyết thành lập Khu giải phóng và triệu tập hội nghị cán bộ toàn khu để thống nhất lãnh đạo. Và Tân Trào đã trở thành Thủ đô Khu giải phóng.

“Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta!”

Theo đánh giá của TS. Nguyễn Văn Bạo, Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền là thời điểm hội tụ những điều kiện chủ quan và khách quan đã chín muồi. Vì thế, việc đánh giá và xác định đúng thời cơ, có hành động kịp thời, mau lẹ chớp thời cơ là một trong những nhân tố rất quan trọng đảm bảo thắng lợi của cách mạng.  

Khi cuộc đảo chính của Nhật nổ ra, Đảng ta đã chủ động vạch ra những nhiệm vụ chiến lược sát đúng để đưa cách mạng tiếp tục tiến lên. Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” đã nhận định cuộc đảo chính của Nhật ở Đông Dương tạo ra cuộc khủng hoảng chính trị sâu sắc, tạo tiền đề cần thiết thúc đẩy cuộc khởi nghĩa. Sau khi Nhật đầu hàng đồng minh, tại lán Nà Lưa - (Tân Trào -Tuyên Quang), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định quyết tâm với một tuyên bố bất hủ: “Lúc này thời cơ đã đến, dù hi sinh đến đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.

Đêm 13/8/1945, Ủy ban Khởi nghĩa đã ra Quân lệnh số 1, hiệu triệu toàn dân đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền. Thời cơ khởi nghĩa ngàn năm có một được chọn một cách chính xác trong khoảng 15 ngày, trước khi quân Tưởng và quân Anh đổ bộ vào Đông Dương. Ngày 16/8, Đại hội quốc dân tại Tân Trào đã thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, thông qua lệnh Tổng khởi nghĩa, quyết định Quốc kỳ nền đỏ sao vàng… Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta!”.

Đáp ứng lời kêu gọi ấy, cuộc khởi nghĩa đã diễn ra ở các tỉnh, thành trên cả nước một cách rất đa dạng, phong phú. Có địa phương khởi nghĩa từ nông thôn tràn về thành thị, có nơi lại từ thành thị về nông thôn, có nơi cả nông thôn và thành thị đều khởi nghĩa. Cuộc Tổng khởi nghĩa bắt đầu nổ ra từ 14 - 18/8/1945, chúng ta đã nhanh chóng giành được thắng lợi ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, đại bộ phận các tỉnh miền Trung, một phần miền Nam. Sang ngày 19/8, cuộc khởi nghĩa đã thắng lợi ở Hà Nội, ngày 25/8, khởi nghĩa thắng lợi ở Sài Gòn, Lạng Sơn, Sóc Trăng, Vĩnh Long… Như vậy, chỉ trong 15 ngày, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn. Lần đầu tiên trong lịch sử, chính quyền trong cả nước thuộc về nhân dân.

Văn kiện chính trị quan trọng nhất

Trước khi quân Đồng Minh kéo vào nước ta, ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), trước cuộc mít tinh của hơn nửa triệu đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã trở thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. 

Dẫu năm tháng trôi qua, nhưng bản Tuyên ngôn Độc lập vẫn sống mãi trong lòng bao thế hệ không chỉ bởi giá trị lịch sử, pháp lý mà còn bởi giá trị nhân văn về quyền con người cũng như quyền dân tộc. Bản Tuyên ngôn Độc lập chính là văn kiện chính trị quan trọng nhất của Việt Nam, phản ánh rõ ràng và mạnh mẽ nhất ý chí, quyết tâm của dân tộc Việt Nam yêu hòa bình nhưng sẽ kiên quyết đánh bại mọi kẻ thù xâm lược. Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp soạn thảo trong một thời gian nhanh kỷ lục là một văn kiện lịch sử, chính trị, pháp lý đầu tiên của các dân tộc thuộc địa bị áp bức, thống trị đã đứng lên giành độc lập ngay sau khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc.

70 năm đã trôi qua, song bài học về sự tích cực chuẩn bị lực lượng mọi mặt cùng nghệ thuật chớp thời cơ của Đảng trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vẫn vẹn nguyên giá trị. Đặc biệt, bài học này đã được vận dụng sáng tạo trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược của dân tộc ta.

Dũng Nguyễn