Thấy gì từ tăng trưởng tín dụng của VIB?

Ngân Giang

Ngân hàng TMCP Quốc tế (VIB) vừa công bố kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm với LNTT tăng 24,5%, đạt 380 tỷ đồng nhờ tăng trưởng tín dụng tốt và chi phí dự phòng giảm.

Tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm của VIB đạt 15%, đạt 69.204 tỷ đồng, chủ yếu là cho vay khách hàng cá nhân (tăng 31,6% so với đầu năm) và cho vay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (tăng 12% so với đầu năm). Trong khi đó, cho vay doanh nghiệp tư nhân giảm 2,6% so với đầu năm và cho vay DNNN chỉ tăng 2,7% so với đầu năm.

Giai đoạn 2012 - 2014, trong khi phần lớn các ngân hàng TMCP vẫn duy trì tăng trưởng tín dụng nhưng VIB lại có chiến lược hoàn toàn khác biệt và quyết liệt hơn hẳn là chủ động không chú trọng tăng trưởng tín dụng giai đoạn này. Cụ thể năm 2012, tăng trưởng tín dụng của VIB là -22,18%, gần như thấp nhất so với một số ngân hàng cùng quy mô như Sacombank (19,02%), VPBank (26,51%) hay SHB (93,32%). Đồng thời, lãi suất cho vay của VIB cũng ở mức tương đối cao để hạn chế tăng trưởng tín dụng. Lãi suất cho vay bình quân năm 2012 của VIB là 14,35%, ở mức cao hơn so với mặt bằng chung các ngân hàng TMCP.

Giai đoạn 2015-2016, tăng trưởng tín dụng VIB tăng trở lại với mức tăng đạt 26,11% năm 2015 và 25,82% năm 2016, cao hơn hẳn so với trung bình toàn hệ thống là 17,26% và 18,25%. Một trong những biện pháp VIB sử dụng để thúc đẩy tín dụng đó là giảm lãi suất. Cụ thể, khi so sánh với tỷ lệ tương ứng của một số ngân hàng TMCP năm 2016, tăng trưởng tín dụng của VIB gần như cao nhất trong khi lãi suất cho vay ở mức tương đối thấp so với mặt bằng chung các ngân hàng.

Tỷ trọng cho vay BĐS của VIB từng có giai đoạn ở mức 0%, có vẻ như ngân hàng vẫn đang kiên định theo mục tiêu này. Theo báo cáo 6 tháng đầu năm nay, tăng trưởng tín dụng chủ yếu từ khoản vay của ngành vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc, tăng mạnh 32% so với đầu năm, đạt 15.185 tỷ đồng, chiếm 21,9% tổng dư nợ. Trong khi đó các khoản vay của các ngành thương mại, sản xuất và chế biến giảm 6% so với đầu năm, chiếm 23,4% tổng dư nợ.

Phân loại theo kỳ hạn, cho vay dài hạn tăng nhanh hơn. Cụ thể, cho vay ngắn hạn giảm 4% so với đầu năm đạt 19.108 tỷ đồng; Cho vay trung hạn tăng 10% so với đầu năm đạt 20.695 tỷ đồng; Cho vay dài hạn tăng 37% so với cùng kỳ đạt 29.402 tỷ đồng.

Cho vay trung và dài hạn hiện chiếm 72,4% tổng dư nợ so với tỷ trọng 66,9% vào cuối năm 2016. Phân loại theo loại tiền, cho vay bằng VND tăng 20% so với đầu năm, trong khi đó cho vay bằng ngoại tệ giảm 9% so với đầu năm và hiện chiếm 12,7% tổng dư nợ.

Tiền gửi khách hàng chỉ tăng nhẹ 4,9% so với đầu năm đạt 62.183 tỷ đồng, trong khi đó giấy tờ có giá trị tăng hơn 3 lần, đạt 8.303 tỷ đồng vào cuối quý 2/2017. Do đó, tổng tiền gửi của khách hàng và giấy tờ có giá trị tăng 15,1%. Tỷ lệ sử dụng huy động ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn là 47,5% cuối năm 2016, và ngân hàng cần giảm tỷ lệ này về mức 40% trước cuối năm nay. Do đó, VIB sẽ chịu áp lực phải tăng vốn trung và dại hạn và thực tế ngân hàng đã nỗ lực phát hành chứng chỉ tiền gửi trung hạn.

VIB đã tập trung huy động vốn trung dài hạn qua kênh chứng chỉ tiền gửi với lãi suất cao hơn kênh tiền gửi thông thường. Đồng thời, ngân hàng cũng tăng vay trên thị trường liên ngân hàng và huy động từ các tổ chức tài chính khác với chi phí thấp hơn nhằm bù trừ cho phần chi phí huy động vốn trung dài hạn tăng.

Tỷ lệ nợ xấu của VIB là 2,59%, giữ nguyên so với năm 2016. Số dư nợ xấu là 1.789 tỷ đồng, tăng 239,4 tỷ đồng. Nợ xấu tăng chủ yếu do VIB nhận lại 373,5 tỷ đồng nợ xấu đã bán cho VAMC để tự xử lý, tổng giá trị trái phiếu VAMC chưa trích lập dự phòng vào cuối quý 2 là 1.231,4 tỷ đồng, tương đương 1,78% tổng dư nợ. Trong 6 tháng đầu năm VIB xóa 310,4 tỷ đồng nợ xấu, tương đương 0,45% tổng dư nợ.

Tổng số dư nợ xấu và trái phiếu VAMC chưa trích lập dự phòng giảm còn 3.020,5 tỷ đồng, bằng 4,4% tổng dư nợ. Chi phí dự phòng giảm 29% so với cùng kỳ xuống còn 250,9 tỷ đồng, gồm 80,6 tỷ đồng dự phòng chung cho vay khách hàng; 80,5 tỷ đồng là dự phòng cụ thể và 90 tỷ đồng là dự phòng trích lập cho trái phiếu VAMC. 

cùng chuyên mục
Kéo xuống để xem tiếp nội dung
Xem thêm trên infonet