Những người tâm huyết với giáo dục Việt Nam như GS. Ngô Bảo Châu, GS. Trần Văn Nhung... cùng chung quan điểm cho rằng giáo dục Việt Nam đang phải đối mặt với sự thiếu trung thực và chưa thực sự quốc tế hóa.

“Bệnh thành tích” và sự thiếu trung thực

Nhiều ý kiến thẳng thắn, gai góc về những điểm cần khắc phục của nền giáo dục Việt Nam vừa được chia sẻ tại chương trình giao lưu ra mắt sách “Kẻ trăn trở” do Công ty Cổ phần Sách Thái Hà tổ chức sáng 12/9/2015 ở Hà Nội.

Tại chương trình giao lưu ra mắt sách "Kẻ trăn trở", những giáo sư tâm huyết với giáo dục Việt Nam đã thẳng thắn chỉ rõ những hạn chế của nền giáo dục nước nhà. Ảnh: B.M

Trong đó, chủ đề thu hút sự quan tâm lớn nhất là sự thiếu trung thực và bệnh thành tích trong giáo dục.

Theo GS Toán học Ngô Bảo Châu, Giám đốc Khoa học Viện nghiên cứu cao cấp về Toán, một học sinh cố gắng ngày đêm nhưng điểm không cao vẫn rất đáng trân trọng. Nhưng tâm lý phổ biến ở Việt Nam là phải đạt điểm cao mới được ghi nhận và trân trọng. Chính vì vậy nên trong các cuộc thi, thường phải cố gắng để 99% học sinh thi đó, thậm chí 99% học sinh phải đạt loại giỏi. Đây là một biểu hiện của “bệnh thành tích”.

Cùng chung quan ngại về sự tồn tại của “bệnh thành tích” trong nền giáo dục hiện nay, PGS.TS Lê Kim Long, Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội phân tích thêm: “Sinh viên bây giờ chọn thày, chọn môn thì toàn chọn thày dạy dễ, cho điểm cao. Thày nào nghiêm khắc thì ghét, thậm chí chẳng em nào đăng ký chọn học, thế là thày mang tiếng, bị chê là kém, thậm chí lãnh đạo nhà trường  bảo năm sau thày nghỉ. Đây là cả 1 sự thách đố.

Trách nhiệm của nhà quản lý giáo dục là phải phát hiện những người thày dám xả thân hy sinh vì sinh viên, động viên sinh viên học tập, chứ không hùa theo thiên hạ mỗi khi người thày đó gặp khó khăn. Tuy nhiên, các nhà quản lý dũng cảm giờ ít quá, bởi vì hầu hết đều muốn đảm bảo tiêu chí đầu tiên là giữ ghế, tiêu chí thứ hai là an toàn. Lẽ ra người lãnh đạo phải dám chịu trách nhiệm để nâng đỡ, giúp đỡ những người trung thực, vận hành hệ thống quản trị để làm cho xã hội trung thực”.

Đa phần khách tham dự là giới trẻ, và khán phòng đông đến phút cuối. Ảnh: B.M

Quốc tế hóa bằng cách đẩy mạnh đào tạo tiếng Anh

Cũng tại chương trình giao lưu, GS. Trần Văn Nhung, nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo, là người đầu tiên “khơi mào” cho chủ đề cần quốc tế hóa giáo dục Việt Nam.

“Chúng ta đã có Nghị quyết số 29 của Trung ương về phát triển căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam. Nhưng theo tôi, phải quốc tế hóa căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam, đấy là cách tốt nhất để phát triển nhanh chóng”, GS. Trần Văn Nhung nói.

“Cách đây 6 tháng, tôi đã gửi thư đề nghị Bộ Chính trị hãy ra quyết sách về tiếng Anh đặc biệt quan trọng cho Việt Nam. Tương tự như đã từng ban hành Chỉ thị số 58 về phát triển công nghệ thông tin vào năm 2000, và 15 năm qua, công nghệ thông tin đã đi vào từng tế bào của xã hội, nhiều nước khác sử dụng công nghệ thông tin – truyền thông còn kém Việt Nam. Cần xem công nghệ thông tin và tiếng Anh là 2 chân, không thể để chân thứ hai bị thọt. Cả 2 chân phải khỏe mới đi nhanh được”, GS. Trần Văn Nhung chia sẻ.

Nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo đề nghị các nhà quản lý giáo dục đương thời cần học tập Singapore. Ngay từ năm 1965, Thủ tướng Lý Quang Diệu đã quyết định quốc tế hóa giáo dục, copy luôn sách giáo khoa của Anh. Sau đó, các trường đại học như Nanyang... đều áp dụng chương trình lấy bằng Harvard, MIT... , và đã kéo 20% sinh viên thế giới đến đấy.

Quay lại với Việt Nam, GS. Trần Văn Nhung khuyến nghị: “Hội nhập thế giới, cạnh tranh thì phải có tiếng Anh. Chúng ta cần phải mở chính sách về việc dạy và học tiếng Anh. Phải tăng cường dạy tiếng Anh cả phổ thông và đại học”.

Tự nhận là người chịu nhiều ảnh hưởng bởi quan điểm của GS. Trần Văn Nhung, ông Lương Hoài Nam, tác giả của cuốn sách “Kẻ trăn trở” cũng cho rằng cần phải nghiêm túc suy nghĩ về câu chuyện quốc tế hóa giáo dục là gì và như thế nào.

“Vừa rồi, tham gia góp ý cho chương trình giáo dục phổ thông, tôi mạnh dạn đề xuất nên để tiếng Anh là ngoại ngữ bắt buộc trong cả 3 cấp học: tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông. Khi tham khảo chương trình đổi mới giáo dục của Malaysia giai đoạn 2013 – 2025, tôi thấy một điều giật mình, đó là họ không gọi tiếng Anh là ngoại ngữ mà là ngôn ngữ 2, tiếng Malaysia là ngôn ngữ 1, các thứ tiếng khác mới gọi là ngoại ngữ. Tôi càng yên tâm rằng kiến nghị của tôi về tiếng Anh là có cơ sở”, ông Lương Hoài Nam nói.

“Còn để tình trạng học sinh học hết đại học ra trường không dùng được tiếng Anh thì không tốt. Tôi nghĩ việc quốc tế hóa giáo dục, nâng tầm tiếng Anh lên chỉ có tốt cho giáo dục Việt Nam thôi. Đừng sợ rằng trẻ con dùng nhiều tiếng Anh thì quên tiếng Việt. Không có chuyện quên tiếng Việt đâu. Nếu thực sự làm được việc quốc tế hóa giáo dục, đưa tiếng Anh lên tầm mới, gần như phổ cập tiếng Anh thì chỉ có tốt cho đất nước thôi”, ông Lương Hoài Nam chia sẻ thêm.

Bình Minh