Trong giai đoạn 2016-2020, đưa Hà Nội trở thành trung tâm công nghiệp công nghệ cao của cả nước, phát triển công nghiệp gắn với khoa học công nghệ, các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệp sản phẩm mới và văn phòng của các tập đoàn sản xuất lớn.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ XV về phương hướng phát triển kinh tế Thủ đô giai đoạn 2011-2015, ngành Công thương đã bám sát sự chỉ đạo của Thành phố, đồng thời phối hợp tích cực với các sở, ngành, trong giai đoạn 2011 – 2015, Ngành công nghiệp của Thành phố được phục hồi, tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, bình quân 5 năm ước tăng 9%. Một số ngành có tốc độ tăng trưởng khá. Đặc biệt, trong giai đoạn 2011-2015, mặc dù nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nói riêng gặp nhiều khó khăn nhưng các doanh nghiệp có sản phẩm chủ lực vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng bình quân về doanh thu từ 10 – 11%, cao hơn mức tăng trưởng của doanh nghiệp công nghiệp.

Để có được những kết quả nêu trên, cùng với sự cố gắng nỗ lực của các doanh nghiệp phải kể đến sự chỉ đạo quyết liệt, đúng trọng tâm của UBND Thành phố, trong giai đoạn 2011-2015, Ngân sách Thành phố đã bố trí kinh phí để thực hiện Chương trình là 54,385 tỷ đồng (trong đó chi đầu tư phát triển là 48,813 tỷ đồng, chi thường xuyên là 5.572 tỷ đồng) sự vào cuộc tích cực của các sở/Ngành liên quan thông qua việc tham mưu xây dựng các cơ chế chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp có sản phẩm công nghiệp chủ lực (SPCNCL) về tài chính, khoa học công nghệ, đào tạo nhân lực, phát triển thị trường,...
    
Trong giai đoạn 2016-2020, nằm trong tổng thể và định hướng phát triển chung về kinh tế của Thủ đô. Để Hà Nội trở thành trung tâm công nghiệp công nghệ cao của cả nước, phát triển công nghiệp gắn với khoa học công nghệ, các trung tâm nghiên cứu, thử nhiệm sản phẩm mới và văn phòng của các tập đoàn sản xuất lớn. Đưa Hà Nội thành thành phố có nền công nghiệp hiện đại, đầu tàu của khu vực phía Bắc.

Dây chuyền lắp ráp ô tô

Trước hết, Thành phố cần tiếp tục chỉ đạo các cấp, ngành và lãnh đạo doanh nghiệp trong việc quyết tâm nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế do:các yếu tố cạnh tranh tăng lên, các quy định về quyền sở hữu trí tuệ, quy định về nhãn mác và xuất xứ hàng hóa, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Kết cấu hạ tầng kỹ thuật như: mặt bằng điện, nước, giao thông còn bất cập chưa theo kịp yêu cầu phát triển để hội nhập kinh tế sâu, rộng. Quan tâm mạnh mẽ đến sản phẩm và doanh nghiệp FDI (bộ phận đóng góp trên 50% kim ngạch xuất khẩu), đưa vào chương trình phát triển sản phẩm chủ lực để có chính sách hỗ trợ thích đáng, tạo lập và nuôi dưỡng nguồn thu cho ngân sách.

Hai là, tiếp tục phát triển chương trình, nâng cao vị thế của các SPCNCL được tôn vinh, đẩy mạnh sức lan tỏa của chương trình trong cộng đồng doanh nghiệp, tạo sự phát triển chung của công nghiệp Thủ đô. Rà soát, điều chỉnh những qui định, qui chế và tiêu chí nhằm đánh giá và xét duyệt sản phẩm công nghiệp chủ lực ngày càng chặt chẽ, lựa chọn những sản phẩm xứng đáng, có qui mô tầm cỡ cả phương diện sản lượng và chất lượng, mang tính tiêu biểu và đại diện, phù hợp với thông lệ quốc tế, đúng chủ trương đường lối chính sách của Đảng và nhà nước. Tăng cường sự phối hợp với các Sở, ngành liên quan trong việc nghiên cứu, nhằm đưa ra qui chế xét duyệt theo hướng mở rộng hơn, nhất là đối với những ngành nghề như: lĩnh vực công nghệ thông tin, điện tử viễn thông, chế biến nông sản thực phẩm ứng dụng công nghệ cao (Công nghệ enzyme, công nghệ sinh học…), ứng dụng vật liệu mới (Vật liệu nano…). Bên cạnh đó cần xây dựng quy chế hỗ trợ theo hướng vận dụng tối đa nội dung và mức hỗ trợ của các văn bản kết hợp với các ưu đãi đặc thù của Luật Thủ đô trong các lĩnh vực: Đất đai (thời gian thuê đất, chính sách ưu đãi miễn giảm tiền thuê đất, chu kỳ tính tiền thuế đất…), vay vốn ngân hàng (hỗ trợ lãi suất, linh hoạt tài sản thế chấp…),…

Lắp ráp các linh kiện điện tử

Ba là, phấn đấu đến năm 2020, tăng số lượng sản phẩm được công nhận là sản phẩm công nghiệp chủ lực lên 150 sản phẩm. Trong giai đoạn 2016-2020, Chương trình cần tạo ra sức lan tỏa rộng khắp để lựa chọn được các doanh nghiệp và sản phẩm công nghiệp tiêu biểu, ngoài những doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn, cần chú trọng đến đối tượng như:

1. Sản phẩm công nghiệp công nghệ cao thuộc các nhóm ngành của các doanh nghiệp tại Khu công nghệ cao Hòa lạc: (i) Khu công nghệ cao Hòa Lạc được đầu tư hạ tầng giai đoạn 2 với 450 triệu USD (trong đó có 400 triệu USD vốn ODA), nhằm mục tiêu đầu tư xây dựng hoàn thiện đồng bộ hạ tầng kĩ thuật và kết thúc vào năm 2018; (ii) Tại Khu công nghệ cao dự tiến xúc tiến đầu tư, kêu gọi các nhà đầu tư trong 5 năm tới lên tới 15 tỷ USD; (iii) Các sản phẩm sản xuất từ khu công nghiệp công nghệ cao là các sản phẩm thuộc nhóm ngành công nghệ cao, có hàm lượng chất xám, khoa học kĩ thuật cao,… là công nghệ nguồn, mang tính định hướng có thể hỗ trợ cho sự phát triển của công nghiệp Hà Nội và cả nước. Những sản phẩm sản xuất từ khu công nghiệp công nghệ cao có khả năng cạnh tranh với các sản phẩm tầm cỡ quốc tế.

2. Sản phẩm công nghiệp tại Khu công nghiệp hỗ trợ Nam Hà Nội (Hanssip): Với quy mô hoàn thành dự kiến là 600 ha, Hanssip là khu công nghiệp chuyên sâu về công nghiệp hỗ trợ (được thành lập đầu tiên và đến thời điểm hiện tại có thể nóilà duy nhất còn có khả năng hình thành, đi vào hoạt động). Với định hướng thu hút đầu tư tập trung phát triển thành tổ hợp công nghiệp hỗ trợ phức hợp, theo hướng: công nghiệp hỗ trợ phục vụ công nghệ cao, hàm lượng chất xám cao, hiện đại,… Việc thu hút đầu tư để hình thành và phát triển Khu công nghiệp hỗ trợ Nam Hà Nội đóng vai trò quan trọng không chỉ trong việc phát triển công nghiệp Hà Nội mà còn quan trọng đối với ngành công nghiệp hỗ trợ của cả nước, hình thành những chuỗi giá trị sản xuất trong lãnh thổ quốc gia, và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.

3. Các sản phẩm công nghiệp của các doanh nghiệp tại các khu, cụm công nghiệp sẽ hình thành và phát triển trong giai đoạn tới. Ngoài các giải pháp chung nhằm cải cách, tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi và nằm trong tổng thể phát triển công nghiệp, doanh nghiệp công nghiệp, sản phẩm công nghiệp Thủ đô, cần chú trọng thực hiện tốt các giải pháp:

Thứ nhất, tiếp tục cải cách thủ tục hành chính trong tất cả các ngành (đặc biệt lĩnh vực thuế, hải quan) ngày càng minh bạch, thuận tiện cho doanh nghiệp;

Thứ hai, đẩy mạnh các hoạt động thu hút đầu tư, trọng tâm vào các lĩnh vực phù hợp và mang lại sức lan tỏa cho ngành công nghiệp (cần có sự phân tích kỹ về chuỗi sản xuất liên quan), qua đó sẽ giúp hình thành nền sản xuất công nghiệp thực sự ổn định và vững chắc.

Thứ ba, tiếp tục duy trì các chính sách hỗ trợ về chi phí vốn còn phù hợp; Tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp về nghiên cứu khoa học cơ bản, về chuyển giao công nghệ, hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ, các chính sách về phát triển công nghệ (dịch vụ công nghệ, thị trường khoa học và công nghệ, khuyến khích đổi mới, chuyển giao công nghệ tiên tiến phù hợp). Có biện pháp xử phạt thích đáng việc chuyển giao, nhập khẩu những công nghệ lạc hậu tác động xấu tới môi trường.

Thứ tư, mở rộng hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ (đặc biệt chú trọng chương trình hợp tác chiến lược với Nhật Bản đã được cụ thể hóa bằng Quyết định 1043/QĐ-TTg ngày 01/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ), đa dạng hoá các loại hình hợp tác để tranh thủ tối đa sự chuyển giao công nghệ hiện đại từ đối tác nước ngoài cho phát triển công nghiệp. Trong các dự án đầu tư phát triển và trong hợp tác sản xuất kinh doanh cần đặc biệt coi trọng yếu tố chuyển giao công nghệ mới, coi đây là một trong những yếu tố để quyết định dự án đầu tư và hợp đồng hợp tác sản xuất.

Thứ năm, phối hợp và hợp tác với các tỉnh lân cận để “giãn” và chuyển giao bớt những hoạt động sản xuất công nghiệp hoặc công nghệ không phù hợp phát triển ở Thủ đô, tạo liên kết vùng và chuỗi giá trị. Chủ động xây dựng và triển khai cùng các tỉnh khác trong vùng Thủ đô những chương trình phát triển công nghiệp công nghệ cao như công nghệ phần mềm, công nghệ sinh học, công nghệ chế biến thực phẩm chất lượng cao, có giá trị lớn.....

Thứ sáu, tăng cường tham mưu đề xuất các cơ chế chính sách thiết thực, hiệu quả để thúc đẩy các DN trong các lĩnh vực ưu tiên: công nghiệp chủ lực, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp mũi nhọn...tạo đà cho việc duy trì tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp.

Thứ bảy, tăng cường công tác xúc tiến thương mại, đặc biệt là các chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm, đẩy mạnh việc tìm kiếm khai thác các thị trường mới nổi, các thị trường mà Việt Nam đã ký kết các hiệp định thương mại đa phương và song phương. Chú trọng khai thác các khu vực cung cấp nguyên phụ liệu, linh kiện phụ tùng, máy móc thiết bị để tận dụng lợi thế khi Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) có hiệu lực và không bị thiếu hụt nguyên phụ liệu trong tình hình biển Đông, Trung đông, Châu âu… ngày càng diễn biến phức tạp.

Thứ tám, để đạt được những mục tiêu, định hướng và giải pháp thúc đẩy sự phát triển ổn định, bền vững của các SPCNCL xứng tầm với vị thế của nền kinh tế Thủ đô, trong giai đoạn tới cần sự chỉ đạo quyết liệt hơn nữa của UBND TP, sự vào cuộc mạnh mẽ hơn của các sở, ngành liên quan, trong đó:

- Cần kiện toàn Ban Chỉ đạo Chương trình phát triển SPCNCL đảm bảo phát huy trí tuệ tập thể, xây dựng chương trình thiết thực, hiệu quả có sức lan tỏa mạnh mẽ hơn trong cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt với các sản phẩm của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các Khu công nghiệp, khu công nghệ cao, KCN công nghệ thông tin tập trung;

- Cần rà soát và nghiên cứu xây dựng cơ chế hỗ trợ các sản phẩm công nghiệp chủ lực, doanh nghiệp công nghiệp chủ lực một cách thiết thực và tạo điều kiện bứt phá cho công nghiệp Thủ đô;

- Quá trình chỉ đạo của lãnh đạo Thành phố đối với Chương trình phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực được tăng cường thành một chỉ đạo thường xuyên của các quý và hàng năm.

Với tinh thần nỗ lực, đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp công nghiệp và người lao động Hà Nội, phát huy truyền thống, quyết tâm xây dựng nền công nghiệp tương xứng với tầm vóc của Thủ đô trong thời kì hội nhập và phát triển.

Lê Hồng Thăng - Giám đốc Sở Công thương