Thái Bình vẫn còn là một tỉnh còn nghèo, đông dân, chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, đối tượng bảo trợ xã hội rất lớn, nhất là nạn nhân của chất độc màu da cam, tệ nạn xã hội gia tăng ... nên một bộ phận dân cư không nhỏ cần được sự trợ giúp.

 Trong thời gian vừa qua, Thái Bình đã và đang triển khai thực hiện có hiệu quả nhiều chính sách trợ giúp các đối tượng yếu thế. Ngoài các chính sách theo quy định của Chính phủ và các bộ, ngành trung ương, UBND tỉnh cũng đã ban hành thêm một số chính sách ưu tiên, trợ giúp cho các nhóm đối tượng này nhằm quan tâm, chăm lo và tạo điều kiện tối đa cho các đối tượng có cuộc sống ổn định và hòa nhập tốt hơn vào cộng đồng.

Sở Lao động – TBXH đã tích cực phối hợp với các Sở, ngành, đoàn thể tham mưu cho UBND tỉnh chỉ đạo các Sở, ban, ngành, đoàn thể, UBND các huyện, thành phố căn cứ chức năng, nhiệm vụ để triển khai tổ chức thực hiện. Từ năm 2011 đến năm 2015, UBND tỉnh đã ban hành 04 văn bản chỉ đạo về thực hiện trợ giúp xã hội, liên sở đã ban hành 07 văn bản hướng dẫn địa phương thực hiện, ngoài ra Sở có nhiều văn bản chỉ đạo, chấn chỉnh công tác trợ giúp xã hội cơ sở. Tổ chức tập huấn chính sách mới cho cán bộ lao động - TBXH cấp huyện, xã. Riêng chính sách đối với người khuyết tật, Sở Lao động - TBXH phối hợp với Sở Y tế tổ chức tập huấn cho trên 2.000 người là thành viên của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật xã, phường, thị trấn; tập huấn cho gần 600 cán bộ là Chủ tịch, cán bộ lao động - TBXH cấp xã về thực hiện Nghị định 136 và Thông tư số 29.

Thái Bình hiện có trên 93 nghìn đối tượng bảo trợ xã hội đang được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng

Thái Bình hiện nay không còn hộ đói, tuy nhiên sự phân hóa giàu nghèo đang diễn ra mạnh mẽ và là vấn đề bức xúc toàn xã hội quan tâm, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhưng không bền vững, số hộ tái nghèo cao. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2014: 3,32% (20.114 hộ nghèo), tỷ lệ hộ cận nghèo 3,34% (20.221 hộ cận nghèo), tỷ lệ hộ nghèo có đối tượng bảo trợ xã hội chiếm 91% tổng số hộ nghèo, trong đó hộ nghèo có đối tượng bảo trợ xã hội không còn sức lao động 9.170 hộ (chiếm 45,6% tổng số hộ nghèo).

Bên cạnh đó, do hậu quả của chiến tranh và từ những nguyên nhân khác nhau nên Thái Bình có số lượng đối tượng bảo trợ xã hội lớn. Thái Bình đang chi trả cho 93.945 đối tượng bảo trợ xã hội, trong đó, thực hiện trợ cấp xã hội hàng tháng cho 57.929 người cao tuổi (theo Nghị định số 06) chiếm 61,7%, chi trả trợ cấp cho NKT: 31.483 đối tượng (chiếm 33,5%) với tổng kinh phí gần 275 tỷ đồng (Thái Bình đang thực hiện mức và hệ số theo quy định của Chính phủ đối với đối tượng tại cộng đồng). Đối tượng tại cơ sở bảo trợ xã hội là 677 người (trong đó, đang quản lý, nuôi dưỡng, chăm sóc tại cơ sở là 291 người). Ngoài mức quy định của Chính phủ, tỉnh đã hỗ trợ thêm tiền ăn cho đối tượng 150.000 đồng/người/tháng. 
Chính sách trợ giúp đột xuất được tỉnh thực hiện kịp thời đã giúp đời sống nhân dân khi bị rủi ro do thiên tai, tai nạn nghiêm trọng và những lý do bất khả kháng khác để nhanh chóng ổn định đời sống, ổn định sản xuất, đảm bảo kịp thời, nhanh, chính xác, không bỏ sót, nhầm lẫn hoặc tràn lan.
Có thể thấy một trong những thành công trong việc thực hiện chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên ở Thái Bình, đó là tỉnh ban hành văn bản chỉ đạo, hướng dẫn công tác triển khai, thực hiện kịp thời, quan tâm đến việc thực hiện chính sách đối với đối tượng bảo trợ xã hội. Công tác xét duyệt hồ sơ hưởng trợ cấp xã hội cơ bản được các địa phương thực hiện tốt. Công tác tuyên truyền được trú trọng, các văn bản chỉ đạo từ cấp trung ương, cấp tỉnh thường xuyên được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, ở cấp xã, phường, thị trấn được đăng tải trên hệ thống loa truyền thanh cấp xã để nhân dân được biết và cùng giám sát kiểm tra thực hiện.

Tuy nhiên, khi thực hiện chính sách trợ giúp xã hội, tỉnh Thái Bình đã gặp một số khó khăn, vướng mắc như:  Mức trợ cấp xã hội hàng tháng cho đối tượng tại cộng đồng còn thấp (tỉnh chỉ thực hiện theo quy định của Chính phủ).  Thực hiện Luật Người khuyết tật và các văn bản hướng dẫn, việc đánh giá người khuyết tật trên cơ sở thực chứng và ngay tại xã, phường, đã tạo điều kiện đi lại gần gũi cho người khuyết tật và ít tốn kém hơn. Tuy nhiên, việc xác định dựa trên quan sát và sử dụng bảng hỏi mang tính xã hội chưa chính xác và khó áp dụng cho thành viên của hội đồng, bởi vì: Bảng hỏi dành cho tất cả các dạng khuyết tật là không hợp lý.

Thực hiện Nghị định số 136 và Thông tư số 29, các đối tượng bảo trợ xã hội được tổng hợp đã hợp lý, khoa học, tuy nhiên đối tượng trẻ em không có nguồn nuôi dưỡng gồm 11 loại nhưng vẫn chưa bao phủ hết (trẻ em mồ côi 01 bề, hoặc không có bố, mẹ đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng tại cộng đồng);  Đối tượng bảo trợ xã hội của tỉnh rất lớn, nhưng chưa quản lý bằng phần mềm ở cả 3 cấp, dẫn đến đối tượng cấp trùng thẻ BHYT lớn;  Công chức lao động - TBXH xã phải làm nhiều việc, thay đổi vị trí liên tục, nhiều công chức tuổi cao; Một số công chức xã, chưa tập trung nghiên cứu văn bản quy định, tham mưu cho UBND xã thực hiện đúng quy định.
Từ những khó khăn đó Thái Bình đã đề xuất, kiến nghị với các Bộ, ngành liên quan lập kế hoạch hỗ trợ người yếu thế có việc làm, bảo đảm thu nhập tối thiểu: Cần tạo nhiều cơ hội việc làm có thu nhập cao và ổn định, tăng cường cải thiện điều kiện việc làm thông qua vay vốn tạo việc làm, tiếp cận thông tin, thông tin thị trường lao động, thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia; Trợ giúp xã hội cho những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn bao gồm: Trợ giúp xã hội thường xuyên: Cần tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp xã hội theo hướng mở rộng đối tượng, điều chỉnh chuẩn và nâng mức hưởng; xây dựng mức sống tối thiểu, bảo đảm mọi người dân có mức sống dưới mức tối thiểu đều được hỗ trợ, thực hiện hỗ trợ toàn diện đối với người cao tuổi, trẻ em, người bị khuyết tật; Trợ giúp xã hội đột xuất: Cần hoàn thiện cơ chế, chính sách và phương thức tổ chức thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp đột xuất đảm bảo người dân khi gặp rủi ro, thiên tai, bão lụt, bị chết người, mất tài sản được hỗ trợ kịp thời để vượt qua khó khăn, khôi phục sản xuất, việc làm, đảm bảo thu nhập, ổn định cuộc sống. Bên cạnh đó tạo cơ hội tốt hơn cho các gia đình, đặc biệt phụ nữ, tham gia vào lực lượng lao động thông qua trợ cấp cho nhóm trẻ em 0-6 tuổi có điều kiện; Sử dụng công nghệ thông tin để quản lý và chi trả qua hệ thống dịch vụ công.

(Tuyên truyền Đề án phát triển nghề Công tác xã hội - Đề án 32)

Hồng Phượng