Nhiều thông tin cho rằng có phụ nữ bị cắt ngực oan khi họ không phải bị ung thư vú mà đó chỉ là những u bình thường, nhưng chụp nhũ ảnh nhầm đó là ung thư vú.
Ảnh minh hoạ.

Choáng váng vì bị đoạn nhũ

Năm 2012, các nhà khoa học Mỹ đã công bố một thông tin đầy chấn động: trong suốt 30 năm, khoảng 1,3 triệu phụ nữ ở nước này đã phải trải qua quá trình điều trị ung thư không cần thiết do đi chụp nhũ ảnh.

Tại Mỹ, ung thư vú là nguyên nhân gây tử vong nhiều thứ hai trong số các trường hợp phụ nữ chết vì ung thư. Và chụp nhũ ảnh là kỹ thuật tầm soát ung thư giúp phát hiện sớm bệnh này.

Thế nhưng, các nhà khoa học nhận thấy, từ khi việc chụp chiếu trở thành quy chuẩn tầm soát ung thư vú ở Mỹ, số ca "ung thư vú" được phát hiện sớm tăng lên gấp 2 lần so với trước đó. Theo số liệu thống kê, cứ 100.000 người thực hiện tầm soát ung thư thì có 234 người phát hiện "có khối u".

Các bác sĩ đã phát hiện ra những khối u giống ung thư nhưng lại không phải là ung thư, hoặc ung thư quá nhỏ và phát triển rất chậm đến mức sẽ không gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe bệnh nhân.

"Chúng tôi cho rằng ung thư vú đã được chẩn đoán quá mức. Chỉ tính riêng trong năm 2008, hơn 70.000 ca được chẩn đoán là ung thư vú (chiếm 31% số ca ung thư vú mới) thực tế đã bị chẩn đoán quá mức".

Đó là kết luận của Gilbert Welch thuộc Khoa Y, trường Đại học Dartmouth và Archie Bleyer thuộc Trường Đại học Y tế và Khoa học Oregon, trong nghiên cứu viết trên Tạp chí y khoa New England Journal of Medicine.

Thông tin trên nhanh chóng được nhiều người bệnh từng bị ung thư vú ở Việt Nam quan tâm. Chị Trần Mai Hương trú tại Long Biên, Hà Nội tâm sự, năm 2009, chị thấy ở ngực mình có một cái nốt nhỏ như hạt đậu đen, chị Hương không quan tâm đến nó lắm nhưng sau này cái hạt đậu vẫn không to ra mà không bé đi. Chị Hương mới để ý đến sự tồn tại của nó.

Chị đi kiểm tra sức khoẻ, bác sĩ cho chụp Xquang vú và nghi ngờ đó là ung thư. Chị Hương đã vào bệnh viện làm phẫu thuật và không hoá, xạ trị. Chị kể: “Tôi đã có phác đồ hoá chất nhưng chỉ được 1 đợt thốc hoá chất vào người tôi đã không còn sức lực để sống, với tôi sống như thế chẳng bằng chết”. 

Không bi quan, không sợ cái chết mà chờ đón nó, chị Hương về nhà tìm cách khác chữa trị. Các loại thuốc lá và thực phẩm nâng cao sức đề kháng như tổ yến, hải sản chị Hương dùng rất nhiều. Từ đó đến nay, chị đi kiểm tra tại các bệnh viện ở Việt Nam và Singapore đều không thấy ung thư tái phát.

Chị Hương cũng được một bác sĩ tại Singapore nghi ngờ có thể ung thư vú của chị chỉ là dương tính giả hoặc là dạng ung thư không xâm lấn.

Chụp nhũ ảnh chỉ là gợi ý

Giáo sư Indraneel Mittra (Ấn Độ), cha đẻ của Đơn vị điều trị ung thư vú và những thử nghiệm ngẫu nhiên trong sàng lọc ung thư vú và cổ tử cung cũng chia sẻ tại hội thảo chẩn đoán và điều trị ung thư vú tổ chức tại Hà Nội vừa qua, cho rằng, khi chụp nhũ ảnh, một tổn thương nhỏ ở vùng ngực được phát hiện là chúng ta cần phải thực hiện xạ trị, cho nên nhiều khi là không cần thiết.

Còn Giáo sư Nguyễn Bá Đức – Nguyên Giám đốc Bệnh viện K Trung ương cho rằng, phương pháp chẩn đoán ung thư có nhiều. Riêng với ung thư vú người ta hay gọi bộ ba chẩn đoán ung thư vú gồm: Chụp nhũ ảnh, bác sĩ khám lâm sàng và làm giải phẫu bệnh tế bào. Mỗi cái có giá trị nhất định. Chụp nhũ ảnh chỉ có giá trị báo cáo dương tính gợi ý để chúng ta tiến hành các bước tiếp theo.

Đến nay các bác sĩ vẫn coi giải phẫu bệnh là chẩn đoán cuối cùng. Giải phẫu bệnh học lấy cấu trúc khối u đi đọc tế bào học dưới kính hiển vi hoặc các phương pháp sâu hơn nữa, ví dụ như nhuộm hoá mô miễn dịch, chẩn đoán gen xác định chi tiết ung thư thuộc nhóm nào xem nhạy với loại thuốc nào, không nhạy với loại thuốc nào. 

Tất cả các ung thư đến nay, muốn chẩn đoán ung thư phải có giải phẫu bệnh, các thầy thuốc mới tiến hành chẩn đoán ung thư và đưa ra phương hướng điều trị cho bệnh nhân. 

Một số trường hợp không có giải phẫu bệnh mà vẫn phải chấp nhận ung thư, đó là ung thư gan.

Khánh Ngọc