Trong câu chuyện giữa hai người lính và cũng là hai thầy trò, những ký ức về lần vượt sóng ra Trường Sa tháng 4/1975 lại hiện về vẹn nguyên.
 

Đại tá Phạm Duy Tam (bìa trái) và Chuẩn đô đốc Lê Kế Lâm.

Vượt gần 1000km bằng cách nhìn... sao trời và la bàn

Dù đã về hưu nhưng Đại tá Phạm Duy Tam – nguyên Phó Tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân vẫn giữ được dáng người chắc nịch, rắn rỏi. Vào những ngày cuối tháng 4 lịch sử, chúng tôi rất may mắn khi được có mặt trong cuộc nói chuyện của ông và Chuẩn đô đốc Lê Kế Lâm – nguyên Giám đốc Học viện Hải quân. Bằng chất giọng hào sảng của mình, ông Tam cho biết, hai tuần sau khi Thành phố Đà Nẵng được giải phóng, một biên đội tàu cá giả dạng tàu không số (Đoàn 125 Hải quân) được lệnh hành quân cấp tốc từ Hải Phòng vào căn cứ của Hải quân Việt Nam Cộng hòa (VNCH) tại cảng Tiên Sa, lúc này đã được một đơn vị của Hải quân Nhân dân Việt Nam dùng làm Sở chỉ huy, để chuẩn bị nhận nhiệm vụ giải phóng Trường Sa với mật danh là C75 (Chiến dịch Xuân 75). Biên đội này gồm ba tàu là 673, 674 và 675, lần lượt do các thuyền trưởng Nguyễn Xuân Thơm, Nguyễn Văn Đức và Phạm Duy Tam chỉ huy. Trong khi đó, ông Dương Tấn Kịch – Chỉ huy phó Đoàn 125 được phân công làm Biên đội trưởng.

Đêm mùng 10, rạng sáng ngày 11/4, các lực lượng được lệnh xếp quân xuống tàu, trong đó tàu 673 chở đội 1 của Đoàn đặc công 126 Hải quân và một bộ phận hỏa lực của Tiểu đoàn 47 (Quân khu 5), tàu 674 chở phân đội 2, tàu 675 chở Đoàn trưởng Đoàn đặc công 126 – Mai Năng. 4h ngày 11/4, Biên đội "C75" xuất phát từ Cảng Tiên Sa với đích đến là đảo Song Tử Tây. Nhiệm vụ được trên giao là phải phát hiện và phân biệt các đảo vào lúc từ 2 đến 3h sáng và tuyệt đối không được đánh nhầm vào các đảo mà Philippines và Đài Loan đang chiếm giữ. "Đây là một nhiệm vụ cực kỳ khó khăn bởi thời đó chúng tôi hành quân bằng phương tiện rất thô sơ, thiết bị dùng để định hướng hành quân chỉ là một la bàn từ và một số dụng cụ đo đạc tính toán thiên văn, không hề có rada hay máy định vị, máy đo độ sâu... Có thể nói, trong suốt cuộc hành quân trên vùng biển bao la đó, chúng tôi chỉ đi bằng cách... nhìn sao trời và tính toán", ông Tam nhớ lại.

Trong khoảng thời gian sau đó, không ít lần họ đã gặp hiểm nguy là những cơn sóng nhồi đập, những chiếc tàu, máy bay do thám của Hạm đội 7 (Mỹ) luôn rình rập. Bên cạnh những mối đe dọa đó còn có cả những sự cố bất ngờ như việc tàu 674 bị hỏng máy khiến tàu 675 phải nối dây kéo đi trên biển. Nhưng mỗi lúc như vậy, cả đoàn vẫn hiệp đồng chặt chẽ, bình tĩnh, chủ động tránh xa và tìm mọi cách đảm bảo bí mật và tiếp tục cuộc hành quân. "Khi đó, điều kiện hành quân rất khó khăn, nhưng với kinh nghiệm đã được đánh đổi bằng xương máu qua nhiều chuyến đi chở vũ khí vào miền Nam, cùng sự tin tưởng của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Quân chủng Hải quân, anh em vẫn quyết tâm đi đến nơi, dù đó là bất kỳ bến bãi nào. Tư tưởng của chúng tôi khi đó là phải bằng mọi giá chớp lấy thời cơ ngàn năm có một để hành quân thần tốc, kịp thời giải phóng các đảo ở Trường Sa", ông Tam kể lại bằng giọng nói đầy tự hào.

Sau ba ngày đêm hành quân liên tục trên biển, biên đội tàu đã vượt qua gần 500 hải lý. Đến đêm 13 rạng sáng ngày 14/4, biên đội đã tiếp cận và xác định chính xác đảo Song Tử Tây. Ngay lập tức, hai tàu 674 và 675 chia ra án ngữ phía Tây – Bắc để đề phòng đối phương từ phía Bắc và nghi binh hai tàu chiến của quân đội VNCH lúc này vẫn còn đang đóng ở khu vực đảo Nam Yết. Còn lại tàu 673 lặng lẽ tiếp cận vào gầm mép san hô rồi thả các xuồng cao su nhỏ và chở quân đổ bộ, bí mật chiếm lĩnh các vị trí chiến đấu trên đảo.

Thời khắc giải phóng

4h30' ngày 14/4, toàn đội hình đồng loạt nổ súng sau hiệu lệnh tấn công là tiếng nổ của một phát đạn ĐKZ. 30 phút sau đó, các chiến sĩ đã hoàn toàn làm chủ đảo Song Tử Tây. Trước đà thắng lợi tại đảo Song Tử Tây, cấp trên tiếp tục chủ trương sử dụng Biên đội C75 có tăng cường thêm tàu 641 để giải phóng đảo Sơn Ca, Nam Yết và các đảo khác tại quần đảo Trường Sa. Sau khi chuẩn bị, biên đội tàu tiếp tục rời Đà Nẵng vào 4h ngày 21/4, và tới đêm 24, rạng sáng ngày 25 đã tới đảo Sơn Ca. Giống trận đánh trước đó, lực lượng đặc công đổ bộ lên đảo bằng xuồng cao su để chiếm giữ các vị trí trong yếu. 2h30 phút, trận đánh bắt đầu và kết thúc sau đó 30 phút. Một số chiến sĩ bị thương nhẹ.

Trước tình hình này, các tàu hải quân của Việt Nam Cộng hoà đang đóng tại đây đã bốc toàn bộ quân trên các đảo Nam Yết, Sinh Tồn và Trường Sa và rời đi. Ngay lập tức, tàu 673 và 674 thực hiện đổ bộ chiếm giữ và kéo cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lên các đảo. Như vậy, chỉ trong hơn 10 ngày, toàn bộ đảo tại quần đảo Trường Sa đã được giải phóng. Chiến dịch kết thúc thắng lợi vẻ vang. "Lúc đó anh em vui mừng khôn xiết, mọi người ôm chầm lấy nhau mà rơi nước mắt. Có được điều đó một phần là vì không ngờ cuộc kháng chiến của nước ta lại kết thúc sớm như vậy, phần khác là vì anh em đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên giao, giải phóng và bảo vệ phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc", ông Tam rưng rưng khi nhớ lại.

Nhận định về chiến dịch này, Chuẩn đô đốc Lê Kế Lâm – người thầy dạy trực tiếp của ông Tam tại Trường Sỹ quan Hải quân (tiền thân của Học viện Hải quân) đánh giá: "Thời đó điều kiện học và hành của thầy trò rất khó khăn. Dụng cụ thực hành đa số chỉ là bản đồ và một số thiết bị đo đạc bình thường,  nhưng các em rất nỗ lực, cần cù. Ngay cả việc tiến ra giải phóng Trường Sa với những con người đó, thiết bị đó, trong khoảng thời gian đó chúng tôi cũng chưa nghĩ tới. Chính vì vậy nên khi biết tin mọi người sung sướng vô cùng".

Nguyễn Cường