Sẽ còn tệ hơn, nếu ví dụ, bạn muốn có một lời chứng bằng tiếng H'mong, lúc ấy sẽ chẳng có lựa chọn nào khác.

Điều 6 của Luật Công chứng, quy định về tiếng nói và chữ viết dùng trong công chứng rất ngắn, toàn văn điều này như sau "Tiếng nói và chữ viết dùng trong công chứng là tiếng Việt", nhưng có lẽ những người soạn ra luật này không tính đến tác động của nó.

Ví dụ bạn cần phải thực hiện một tài liệu, ví dụ là một bản khai cần làm chứng, bằng tiếng Anh, để thực hiện một giao dịch dân sự ở một nước khác, một cách thông thường, bạn có thể soạn thảo tài liệu đó bằng tiếng Anh, rồi ký vào đó, trước mặt công chứng viên, và công chứng viên sẽ xác thực rằng, bạn chính là người đã ký tài liệu đó và ký nó trước mặt công chứng viên. 


Bạn đã không còn có thể làm việc đơn giản ấy trên lãnh thổ Việt Nam, bởi vì từ ngày 1 tháng 1 năm 2015, theo điều 6 của Luật Công chứng, Công chứng viên không còn được phép ghi lời chứng song ngữ như trước đây họ có thể làm. Và tệ hơn nữa, bạn gần như không có cơ hội xác thực lời chừng của công chứng viên bằng tiếng nước ngoài, bởi nếu có nhờ ai đó dịch sang tiêng nước ngoài, thì lời chứng của người xác nhận về bản dịch, lúc ấy, cũng phải bằng tiếng Việt.

Bạn chỉ có thể có lời chứng đó bằng tiếng Anh, ví dụ, bằng cách bay sang Singapore, và yêu cầu một công chứng viên ở đó xác thực việc bạn đã tự ký vào văn bản.

Sẽ còn tệ hơn, nếu ví dụ, bạn muốn có một lời chứng bằng tiếng H'mong, lúc ấy sẽ chẳng có lựa chọn nào khác.

Những rắm rối như vậy rõ ràng là không đáng có, bởi vì, nó ngăn cản người Việt Nam bảo vệ các quyền lợi của mình ở nước ngoài, hoặc giúp các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện các thủ tục đơn giản.

Và nguyên tắc, Luật công chứng chỉ cần yêu cầu công chứng viên làm việc theo nguyên tắc khách quan và trung thực, tôn trọng pháp luật, và thậm chí nếu lo ngại cho kiến thức ngoại ngữ của họ, có thể ban hành những lời chứng đơn giản, ví dụ về việc ký các tài liệu bằng các ngôn ngữ phổ biến. Công chứng viên nên được khuyến khích để có thể cung cấp dịch vụ công chứng ở các ngôn ngữ khác nhau, phục vụ cho các yêu cầu dân sự đa dạng của người dân.

Tôi đoán rằng những điều luật như điều 6 của Luật công chứng nhằm mục đích bảo vệ tiếng Việt hoặc thể hiện tinh thần dân tộc, nhưng sự tiện lợi và khả năng cung cấp dịch vụ cho công chúng có lẽ là nhu cầu cần quan tâm hơn cả trong trường hợp này.

Hội nhập quốc tế và nâng cao khả năng cạnh tranh là nhu cầu cấp thiết, và nó nằm ở chính những yêu cầu đơn giản như việc phải cân nhắc trước những điều luật đơn giản mà nhiều tác động như điều 6 của Luật công chứng.

Phạm Quang Vinh