Phi có F-111 Aardvark là một loại máy bay ném bom tầm thấp, và mặc dù gặp nhiều vấn đề trong giai đoạn chế tạo ban đầu, nó dần trở thành một loại máy bay được ưa chuộng trong nhiều thập kỷ.

Khởi đầu khó khăn

Máy bay F-111 Aardvark của Mỹ.

Vào đầu những năm 1960, Không quân Mỹ nhận ra rằng các loại tên lửa đất đối không được dẫn đường bởi rađa như tên lửa SA-2 của Liên Xô có thể bắn trúng các máy bay ném bom tầm cao nhưng chậm chạp. Do đó họ đề ra một ý tưởng mới, đó là chế tạo một loại máy bay ném bom có thể đạt tốc độ siêu thanh bay thấp, tránh tầm hoạt động của rađa. Cùng lúc đó, hải quân Mỹ cũng đang cần một loại máy bay đánh chặn được trang bị tên lửa không đối không để tiêu diệt oanh tạc cơ Liên Xô từ xa.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ thời đó là ông Robert McNamara quyết định rằng Không quân và Hải quân Mỹ sẽ chỉ cần một loại máy bay có thể đáp ứng những nhu cầu trên, và cả hai buộc phải hợp tác với nhau để khởi động chương trình phát triển phi cơ mới. Năm 1962, hãng General Dynamics đã giành được thầu, và khi bản thiết kế đầu tiên được công bố, máy bay đã được gán ký hiệu “F” vốn dành cho các máy bay tiêm kích do có kích thước nhỏ hơn các máy bay ném bom chiến lược của Không quân Mỹ.

Thiết kế mang tính đột phá

Máy bay F-111 được lắp đặt hai động cơ TF30 có công suất cao nhưng lại tiết kiệm nhiên liệu. Thân máy bay có tải trọng lớn, có thể mang theo 14 tấn bom và đủ nhiên liệu để có thể bay một quãng đường 4.000km và nếu được lắp thêm bình nhiên liệu phụ nó có thể bay thêm 1.600 km nữa.

Một trong những thách thức mà các nhà thiết kế phải đối mặt khi chế tạo F-111 đó là họ cần một loại phi cơ có thể bay ở tốc độ rất cao nhưng cũng cất cánh và hạ cánh được trên một đường băng ngắn. Việc giảm bớt kích cỡ cánh sẽ giúp giảm sức cản đối với máy bay, qua đó cho phép nó bay nhanh hơn, nhưng lại không cho phép nó có đủ đà để đạt tốc độ cất cánh cần thiết và cần đường băng dài. Ví dụ, máy bay F-105 Thunderchief, một máy bay ném bom nổi tiếng của thời Chiến tranh Lạnh có cánh rất nhỏ và phải cất cánh trên đường băng dài hơn 1,6km, và giới hạn số căn cứ không quân nó có thể hoạt động.

F-111 khi đang ở chế độ "cánh cụp" để đạt tốc độ cao trong lúc bay.

Sau đó, các nhà thiết kế đã nghĩ ra ý tưởng mới, đó là cho phép cánh máy bay có thể xòe ra hoặc cụp vào tùy ý. Điều này có nghĩa là cánh máy bay sẽ xòe ra khi cất cánh để tạo đà, và khi đang bay sẽ cụp vào để đạt tốc độ cao hơn. F-111 là máy bay đầu tiên được thiết kế như vậy.

Ngoài ra, điểm đột phá của máy bay F-111 đó là loại rađa quét địa hình trực tiếp giúp máy bay tự động điều chỉnh đường bay để tránh va đập. Điều này cho phép nó có thể bay ở cách mặt đất 60m ngay cả khi bay đêm hoặc bay trong điều kiện thời tiết xấu.

Những đợt thử nghiệm đầu tiên của F-111 đã cho thấy những kết quả khả quan, khi nó có thể bay với tốc độ Mach 1.2 ở tầm thấp, hoặc Mach 2.5 ở tầm cao, và chỉ cần đường băng dài 600m để cất cánh và hạ cánh. Sau này nó cũng trở thành máy bay chiến lược đầu tiên có thể bay từ Mỹ tới châu Âu mà không phải tiếp nhiên liệu khi bay.

Tuy nhiên, những kết quả trên lại khác hẳn với phiên bản F-111 hoạt động trên tàu sân bay. Được đặt tên là F-111B, nó không thể đạt tốc độ vượt quá Mach 1 sau nhiều lần hiệu chỉnh. Sau đó phiên bản này đã không được sản xuất và Hải quân Mỹ thì không có máy bay chiến đấu mới.

Hoạt động ở Châu Á

F-111 không có được khởi đầu thuận lợi khi được đưa vào sử dụng. Sau khi một phi đội gồm 6 chiếc F-111 được triển khai ở Việt Nam vào năm 1968, 3 trong số đó đã bị đâm sau 55 lần cấp cánh do lỗi kỹ thuật của cánh máy bay. Không quân Mỹ buộc phải ngừng sử dụng F-111 và mất 100 triệu USD để sửa chữa.

F-111 đang thả bom trong một cuộc diễn tập.

Một trong những chiến dịch không quân lớn nhất mà F-111 đã tham gia trong Chiến tranh Việt Nam đó là Chiến dịch Linebacker II, hay còn gọi là Điện Biên Phủ trên không. F-111 đã tấn công các nhà máy sản xuất, căn cứ không quân và trạm rađa của Việt Nam và gây ra nhiều tổn hại lớn. Tuy nhiên trong trận chiến ác liệt này đã có 5 máy bay bị bắn rơi cùng hàng chục máy bay B-52 và các loại máy bay chiến lược khác, khiến Mỹ chịu thất bại quân sự và buộc phải ngồi vào bàn đàm phán ở Paris vài ngày sau đó.

Chiến dịch không kích Libya

Năm 1986, F-111 xuất hiện trở lại sau khi vụ đánh bom tại hộp đêm La Belle ở thủ đô Berlin (Đức) đã khiến hai binh sĩ Mỹ thiệt mạng. Vụ việc này được cho là do các đặc vụ Libya tiến hành, và Tổng thống Mỹ Ronald Reagan đã ra lệnh không kích quần thể khu vực sinh sống của Tổng thống Muammar Gaddafi gần thủ đô Tripoli.

Tại Tripoli, một tổ hợp gồm 25 tên lửa phòng không được bố trí. Một phi đội gồm 18 máy bay F-111 đã thực hiện cuộc tấn công này cùng 4 phi cơ EF-111 Ravens để làm nhiễu rađa, ngoài ra tàu chiến Mỹ cũng được điều động để tấn công các mục tiêu gần thành phố Benghazi (Libya).

Bởi Mỹ không được các nước châu Âu chấp thuận cho máy bay bay qua, các máy bay F-111 buộc phải cất cánh từ Anh và phải bay vòng qua Tây Ban Nha, khiến tổng thời gian bay lên đến 13 tiếng đồng hồ. Tổng cộng các máy bay phải tiếp nhiên liệu sáu lần trong suốt chiến dịch.

F-111 đang được các kỹ sư bảo dưỡng để chuẩn bị không kích Libya.

Tuy nhiên, F-111 đã không phát huy hiệu quả như mong muốn. Một tên lửa phòng không đã bắn rơi một chiếc F-111, khiến hai phi công của máy bay hi sinh. Bốn chiếc F-111 đã không thể thả bom vì lỗi kỹ thuật, còn một chiếc nữa buộc phải hạ cánh xuống Tây Ban Nha do động cơ quá nóng. Bảy máy bay đã thả bom sai mục tiêu, một số đã phát nổ tại khu dân cư và suýt nữa đã phá hủy Đại sứ quán Pháp.

Trong khi đó, ông Gaddafi thì vẫn an toàn, một phần là do Thủ tướng Ý cảnh báo về cuộc tấn công vào phút chót. Tám người con và vợ của ông đã bị thương, còn một người con gái nuôi mang tên Hanna của ông được cho là đã thiệt mạng (mặc dù đây vẫn còn là điểm gây tranh cãi).

F-111 tại Vùng Vịnh

Vào ngày 17/01/1991, Chiến dịch Bão cát Sa mạc được khởi động, F-111 vượt qua sa mạc và tấn công các hệ thống phòng không và các cơ sở quân sự quan trọng của Iraq bằng bom định hướng hiện đại. Trong khi đó, EF-111 Ravens một lần nữa lại sát cánh cùng Aardvark để vô hiệu hóa rađa của Iraq. Tổng cộng đã có 66 máy bay F-111F và 18 F-111E được triển khai trong chiến tranh Iraq và đã cất cánh 5.000 lần.

Mỹ đã gặp phải sự kháng cự kịch liệt từ phía Không quân Iraq. Hai chiếc F-111 đã bị trúng tên lửa định hướng của Iraq do máy bay MiG-23 khai hỏa và một chiếc khác bị tên lửa MiG-29 bắn trúng. Dù vậy, các máy bay vẫn trở về được căn cứ. Nhưng vào tháng tiếp theo, một máy bay EF-111 khi đang cố thoát khỏi sự truy đuổi của máy bay đối phương thì bị đâm xuống mặt đất và cả hai phi công đều thiệt mạng.

Tuy nhiên, một máy bay Raven đã giành chiến thắng trong một cuộc đấu tay đôi với máy bay Iraq. Theo một số thông tin, chiếc EF-111 khi đó đang bay cách mặt đất 120m để dẫn đường cho các máy bay F-15 làm nhiệm vụ thì bất ngờ một chiếc Mirage F1 của Iraq xuất hiện ở phía sau Raven. Ngay lập tức, EF-111 đã phải lượn trái và phải, đồng thời thả pháo sáng để tránh tên lửa tầm nhiệt của đối phương. Trong lúc máy bay Iraq cố gắng theo đuôi chiếc Raven, anh ta đã mất quan sát với khu vực xung quanh và đâm xuống mặt đất.

Sau khi hệ thống phòng ngự của Iraq mỏng hơn trước, các máy bay F-111 chủ yếu được dùng để chống lại quân bộ của đối phương. Hệ thống xác định mục tiêu PaveTack trên các phi cơ này tỏ ra rất hữu hiệu trong việc xác định các xe tăng của Iraq. Đã có hơn 1.500 xe thiết giáp Iraq bị tiêu diệt bởi hệ thống này.

Chiến dịch Bão táp Sa mạc là lần cuối cùng F-111 xuất hiện trên chiến trường quốc tế. Không quân Mỹ đã ra quyết định ngừng sử dụng máy bay này vào năm 1998. Mặc dù rất hiệu quả, Aardvark lại có chi phí bảo dưỡng cao và Không quân Mỹ tin rằng phi đội F-15E của nước này có thể thực hiện những nhiệm vụ tấn công tầm ngắn, trong khi phi cơ B-1 có nhiệm vụ thả bom từ xa.

Thế nhưng, lực lượng này vẫn chưa có loại máy bay nào có thể thay thế F-111. Họ vẫn phụ thuộc vào các phi cơ EA-6B Prowlers và EA-18G Growlers, những mẫu máy bay đã có tuổi, để gây nhiễu rađa của đối phương.

Nội dung được thực hiện qua tham khảo Tạp chí National Interest. National Interest được thành lập vào năm 1985. Tạp chí thường tập trung vào vấn đề chính sách đối ngoại và những lợi ích quốc gia của Mỹ.

Anh Tuấn (lược dịch)