Với lượng giãn nước đầy tải lên tới 9.783 tấn và chiều dài 172 m, các khu trục hạm lớp Kee Lung của Đài Loan lẽ ra phải được phân loại là tuần dương hạm mang tên lửa có điều khiển.

Khu trục hạm mang tên lửa điều khiển lớp Kidd gồm tất cả 4 tàu được khởi đóng năm 1978, đây chính là một phân lớp của khu trục hạm Spruance được Mỹ đóng theo đặt hàng của Hải quân Iran.

Các khu trục hạm lớp Kidd được thiết kế như một chiến hạm đa năng thay vì chỉ thiên về chống ngầm như người tiền nhiệm.

Tuy nhiên sau Cách mạng Hồi giáo, quan hệ giữa Mỹ và Iran đột ngột đảo chiều, do đó Mỹ đã quyết định không chuyển giao 4 khu trục hạm lớp Kidd đã đóng mà giữ lại cho mình. Chúng chủ yếu hoạt động tại khu vực Trung Đông do được thiết kế phù hợp với vùng khí hậu nóng.

Các khu trục hạm lớp Kidd bắt đầu phục vụ trong Hải quân Mỹ từ năm 1981 và ngừng hoạt động năm 1999. Đến năm 2001, Mỹ tiến hành nâng cấp và bán lại cả 4 tàu cho Hải quân Đài Loan với giá 372 triệu USD.

Hải quân Đài Loan gọi lớp tàu chiến này là Kee Lung và đổi tên USS Kidd (DDG-993) thành Tso Ying (DDG-1803); USS Callaghan (DDG-994) thành Su Ao (DDG-1802); USS Scott (DDG-995) thành Kee Lung (DDG-1801) và USS Chandler (DDG-996) thành Ma Kong (DDG-1805).

Thông số kỹ thuật cơ bản: chiều dài 172 m; rộng 17 m; mớn nước 9,6 m; lượng giãn nước tiêu chuẩn 7.289 tấn, đầy tải 9.783 tấn. Với kích thước và lượng giãn nước tương đương với Ticonderoga như trên, đây thực chất là những tuần dương hạm mang tên lửa có điều khiển.

Tàu được trang bị 4 động cơ turbine khí General Electric LM2500 với tổng công suất 80.000 shp (60 MW) cho tốc độ tối đa 33 hải lý/h (61 km/h); tầm hoạt động 6.000 hải lý (11.000 km) khi chạy ở tốc độ 20 hải lý/h (37 km/h) hoặc 3.300 hải lý (6.300 km) ở tốc độ 30 hải lý/h (56 km/h).

Hệ thống điện tử của tàu gồm radar trinh sát trên không SPS-48E; radar trinh sát bề mặt SPS-55; radar kiểm soát hỏa lực SPG-60 và SPQ-9A; hệ thống định vị thủy âm SQS-53; hệ thống tác chiến điện tử AN/SLQ-32 và hệ thống phóng mồi bẫy Mark 36 SRBOC.

Vũ khí đáng chú nhất của các khu trục hạm lớp Kidd/ Kee Lung là 80 tên lửa phòng không tầm xa RIM-66 Standard (SM-2MR) được phóng đi từ 2 ray phóng đôi Mk 26, tên lửa SM-2MR có tầm bắn 167 km; tốc độ Mach 3,5; trần hoạt động lên tới 24.800 m.

Vũ khí chống hạm chủ lực của Kidd/Kee Lung là 8 tên lửa RGM-84 Harpoon bố trí trong 2 cụm 4 ống phóng Mk 141. Tên lửa Harpoon có tầm bắn 124 km; bay bám biển ở tốc độ Mach 0,8 và mang theo đầu đạn nặng 221 kg.

Hải quân Đài Loan hiện đang có kế hoạch thay thế tên lửa Harpoon bằng tên lửa diệt hạm siêu âm Hsiung Feng III (Hùng Phong III) tự sản xuất trong nước.

Tàu được trang bị 2 pháo hải quân 127 mm Mk 45 Mod 2 có chiều dài nòng gấp 54 lần đường kính; tốc độ bắn tối đa 20 phát/phút; tầm bắn 24,1 km; có thể dùng để chống lại cả mục tiêu đường không và mặt nước.

Nhiệm vụ đối phó với tên lửa chống hạm được giao cho 2 tổ hợp phòng thủ tầm cực gần Phalanx Mk 15. Hệ thống Phalanx được trang bị pháo 6 nòng M61 Vulcan Gatling cỡ 20 mm có tốc độ bắn 4.500 phát/phút, tầm bắn hiệu quả 3,6 km.

Để chống lại tàu ngầm, Kidd/ Kee Lung được trang bị 2 x 3 ống phóng Mk 32 tương thích với ngư lôi Mk 46, đây là loại ngư lôi chống ngầm hạng nhẹ có tầm bắn 11 km, độ sâu hoạt động 365 m, vận tốc 74 km/h và mang theo đầu đạn nặng 43,9 kg.

Sàn đáp và hangar ở phía đuôi tàu cho phép mang theo 2 trực thăng săn ngầm hạng trung trong các chuyến hải trình, loại trực thăng thường trang bị trên các khu trục hạm lớp Kidd/ Kee Lung là SH-60.

Hiện tại, 4 khu trục hạm mang tên lửa có điều khiển lớp Kidd/ Kee Lung đang là những tàu chiến mặt nước lớn nhất và mạnh nhất của Hải quân Đài Loan.

Theo Đại Lộ