Tình dục đồng giới hay đồng tính luyến ái đang là vấn đề được quan tâm chẳng những ở nước ta mà cả trên phạm vi toàn cầu, nhất là từ khi nhân loại phải đương đầu với đại dịch HIV/AIDS...

Một xu hướng tình dục

Về mặt khái niệm thì tình dục đồng giới là việc bị hấp dẫn trên phương diện tình yêu hay tình dục hoặc việc yêu đương hay quan hệ tình dục giữa những người cùng giới tính với nhau trong hoàn cảnh nào đó hoặc một cách lâu dài.

Để hiểu rõ hơn về tình dục đồng tính chúng ta cần hiểu về thiên hướng tình dục của con người. Thiên hướng tình dục là sự bị hấp dẫn về mặt tình cảm hoặc về mặt tình dục bởi người khác giới tính hoặc người cùng giới tính với mình hoặc với cả hai người một cách lâu dài.

Thiên hướng tình dục thường được phân loại dựa trên giới tính của những người hấp dẫn mình do đó thường được nêu lên dưới dạng ba loại chính: dị tính luyến ái, đồng tính luyến ái và song tính luyến ái. Những dạng thiên hướng tình dục thông thường nhất nằm trên một thang đo 6 bậc từ hoàn toàn dị tính luyến ái (chỉ bị hấp dẫn bởi người khác phái) cho đến hoàn toàn đồng tính luyến ái (chỉ bị hấp dẫn bởi người cùng phái) và bao gồm vài dạng song tính luyến ái khác (bị hấp dẫn bởi cả hai phái).

Hiện những người đồng tính còn bị sự kỳ thị của xã hội.

Sự ý thức giới tính và sự thể hiện giới tính có liên quan mật thiết đến thiên hướng tình dục, nhưng đây là những khái niệm khác nhau. Sự ý thức giới tính chỉ sự ý thức của chính cá nhân đó về giới tính sinh học của họ, sự thể hiện giới tính chỉ các điệu bộ, cử chỉ, cách cư xử của cá nhân đó còn thiên hướng tình dục thì liên quan đến sự tưởng tượng, mong mỏi, khao khát về tình dục. Chẳng hạn một người đàn ông có giới tính sinh học là nam và ý thức mình là nam (ý thức giới tính là nam) nhưng có điệu bộ, cử chỉ và cách cư xử như phụ nữ (thể hiện giới tính là nữ) đồng thời cũng có thể có ham thích tình dục với phụ nữ (thiên hướng tình dục là dị tính luyến ái).

Thông thường thì mỗi cá nhân có thể thể hiện hoặc công khai thiên hướng tình dục của mình ra bên ngoài. Nhưng những người đồng tính luyến ái thường che dấu thiên hướng và hành vi tình dục của họ.

Nhiều nhà khoa học cho rằng thiên hướng tình dục chỉ được quyết định bởi sự tổng hợp của kiểu gen, hormon và ảnh hưởng môi trường. Một số nhà nghiên cứu khoa học về tình dục cũng nêu lên những lý lẽ để bác bỏ những quan niệm rằng thiên hướng tình dục là do lối sống quyết định. Họ cho rằng con người không thể tự mình lựa chọn giới tính, họ không thể lựa chọn cũng như thay đổi thiên hướng tình dục. Con người không thể thay đổi giới tính. Thiên hướng tình dục là bẩm sinh và không thể thay đổi. Tuy nhiên với sự phát triển về mặt khoa học và kỹ thuật và những biến đổi to lớn về mặt môi trường xã hội hiện nay thì những quan niệm như vậy cũng đang được xem xét lại trên nhiều chiều cạnh khác nhau.

Đồng tính luyến ái, cùng với song tính luyến ái và dị tính luyến ái, là một trong ba dạng thiên hướng tình dục chính nằm trên thang thiên hướng tình dục trong khi vô tính đôi khi được coi là dạng thiên thướng tình dục thứ tư. Theo nghiên cứu khoa học và y khoa, thiên hướng tình dục là kết quả tác động phức tạp bởi các yếu tố bẩm sinh và yếu tố môi trường. Do đó xu hướng tình dục không phải là một sự lựa chọn, mặc dù hành vi tình dục thì rõ ràng là do mỗi con người tự quyết định.

Những cách nhìn…

Trong khi nhiều người nghĩ rằng đồng tính luyến ái là lệch lạc, thì trong các nghiên cứu cho thấy đồng tính là một biến thể tự nhiên của tình dục loài người và không phải là nguyên nhân dẫn tới những yếu tố tâm lý tiêu cực.

Trong nhiều nền văn hóa trước đây cũng như hiện nay, quan hệ đồng tính rất phổ biến. Trong lịch sử, đồng tính luyến ái, dưới góc độ cá nhân, từng được ca tụng hoặc lên án tùy theo những chuẩn mực tình dục của từng xã hội khác nhau. Ở những xã hội mà đồng tính được ủng hộ, những quan điểm đó được coi là một cách làm cho xã hội tiến bộ, nhưng ở nơi đồng tính bị lên án, những hành vi cụ thể bị coi là tội lỗi hoặc bệnh hoạn và một số hành vi đồng tính bị luật pháp trừng trị.

Từ giữa thế kỷ 20, đồng tính dần dần không còn bị xem là một căn bệnh và phạm pháp ở hầu hết các nước phát triển. Hiện nay, luật pháp về quan hệ đồng tính rất khác biệt ở các nước. Tính tới năm 2012, trong tổng số 207 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, có 11 quốc gia chấp nhận hôn nhân đồng tính, 21 quốc gia khác chấp nhận đồng tính chung sống dưới hình thức kết hợp dân sự, cùng với đó là một số tiểu bang ở Mỹ, Úc và Mexico. Ngược lại, có trên 80 nước xem đồng tính là tội phạm ở các mức độ khác nhau trong đó có 5 nước theo Đạo Hồi: Iran, Mauritania, Ả Rập Saudi, Sudan và Yemen, một phần lãnh thổ của Nigeria, Gambia và Somalia có hình phạt tử hình dành cho những người đồng tính luyến ái. Tại châu Á hiện chưa có quốc gia nào chấp nhận hôn nhân hoặc kết hợp dân sự đồng tính, tuy nhiên thái độ của nhiều quốc gia với tình dục đồng tính cũng đã có nhiều thay đổi và cởi mở hơn rất nhiều.

Cộng đồng đồng tính luyến ái trên phạm vi toàn cầu và ở từng quốc gia có số lượng đáng kế. Tỉ lệ đồng tính luyến ái thay đổi tùy theo phương pháp thống kê và tiêu chuẩn chọn lựa. Ví dụ ở Mỹ tỉ lệ đồng tính nam là từ 2,8 đến 9% và đồng tính nữ là 1 đến 5%. Tỉ lệ này có thể lên đến 12% đối với các thành phố lớn và chỉ 1% đối với vùng nông thôn.

Tình dục đồng tính tại Việt Nam cũng đang là vấn đề được các nhà hoạch định chính sách và dư luận xã hội rất quan tâm. Các nghiên cứu khác nhau đưa ra dự đoán hoặc ước tính số người đồng tính một cách khác nhau. Một nghiên cứu do tổ chức phi chính phủ CARE thực hiện, ước tính Việt Nam có khoảng 50-125 ngàn người đồng tính, chiếm khoảng 0,06-0,15% dân số. Còn dựa theo tỷ lệ người đồng tính ở các nước khác, viện Nghiên cứu iSEE, ước tính con số người đồng tính tại Việt Nam là 1,65 triệu người, tương đương với khoảng 2% dân số. Các nghiên cứu nêu trên tuy đã cảnh báo rằng cộng đồng đồng tính luyến ái ở Việt Nam là một nhóm xã hội đặc thù có số lượng không nhỏ, nhưng các nghiên cứu ấy chưa đủ cơ sở khoa học để nhận dạng đầy đủ về nhóm xã hội này.

Việc thống kê và nghiên cứu một cách đầy đủ và rộng khắp để đưa ra những số liệu đúng đắn về người đồng tính ở Việt Nam có ý nghĩa quan trọng trong hoạch định chính sách đối với người đồng tính cũng như các tác động đối với xã hội nói chung. Tuy nhiên, việc thống kê này có nhiều khó khăn như sự khác nhau trong tiêu chuẩn xác định thế nào là đồng tính luyến ái, sự không công khai của người đồng tính và sự không quan tâm đầy đủ của chính quyền và xã hội.

Và hệ lụy…

Trong thời đại có HIV/AIDS, chính sách đúng đắn đối với cộng đồng đồng tính luyến ái chẳng những là vấn đề quyền con người mà còn có ý nghĩa to lớn trong việc dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS.

Theo báo cáo của Trung tâm kiểm soát dịch bệnh Hoa kỳ (CDC) năm 2011 cho biết: nam đồng tính có khả năng nhiễm HIV cao gấp 44 tới 86 lần so với nam giới bình thường, và cao gấp 40 tới 77 lần so với nữ giới. Năm 2009, thống kê cho biết có 61% số ca nhiễm HIV mới ở Mỹ là đồng tính hoặc lưỡng tính, dù nhóm này chỉ chiếm khoảng 2% dân số Mỹ.

Hoa Kỳ hiện đang cấm nhóm đối tượng nam quan hệ tình dục với nam đi hiến máu "vì họ là một nhóm có nguy cơ cao bị nhiễm HIV, viêm gan B và một số bệnh nhiễm trùng khác có thể được lây truyền qua truyền máu".

Tại Việt Nam, theo báo cáo của UBPC AIDS TP. Hồ Chí Minh thì năm 2012 tỉ lệ nhiễm HIV trong những người nam quan hệ tình dục với nam ở Thành phố là 16%, tỷ lệ lây nhiễm HIV chỉ đứng sau nhóm tiêm chích ma túy. Tại đây, cứ 5 nam quan hệ đồng giới thì có 1 người nhiễm ít nhất 1 trong các nhiễm khuẩn giang mai, lậu sinh dục, lậu trực tràng, chlamydia sinh dục hoặc Chlamydia trực tràng. Nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ lây nhiễm HIV/AIDS cao do một đồng tính nam thường có nhiều bạn tình, họ thường giới thiệu bạn tình cho nhau và cùng quan hệ, nên chỉ cần 1 người nhiễm HIV thì sẽ nhanh chóng lây lan sang các đối tượng khác... Sự kỳ thị phân biệt đối xử với người đồng tính luyến ái gây ra nhiều tác hại đối với họ và những hệ lụy khôn lường cho gia đình và xã hội.

Rõ ràng xét cả trên bình diện quyền con người và bình diện sức khỏe vấn đề quan hệ tình dục đồng giới đang đặt ra rất nhiều vấn đề mà nhà nước ta cần quan tâm nghiên cứu và từng bước giải quyết.

 


Theo Sức khỏe & Đời sống