Sáng nay (20/10), Báo cáo tình hình KT-XH 2016 và nhiệm vụ năm 2017 được Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc trình bày tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XIV.

Infonet xin trân trọng đăng toàn văn Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 2016 và nhiệm vụ năm 2017 để bạn đọc tiện theo dõi:

BÁO CÁO

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2016

VÀ NHIỆM VỤ NĂM 2017

(Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc trình bày

tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XIV)

_____________

Thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận  Tổ quốc Việt Nam,

Thưa các đồng chí lão thành cách mạng, các vị khách quý,

Thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Thưa đồng bào, cử tri cả nước,

Theo Chương trình Kỳ họp, Chính phủ đã gửi đến các vị đại biểu Quốc hội các báo cáo về kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2016 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán NSNN năm 2017; các kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế, tài chính – NSNN, đầu tư công trung hạn và định hướng huy động, sử dụng vốn vay, quản lý nợ công giai đoạn 2016 - 2020 và 33 báo cáo chuyên đề khác. Thay mặt Chính phủ, tôi xin báo cáo Quốc hội và đồng bào, cử tri cả nước những nội dung chủ yếu về tình hình kinh tế - xã hội năm 2016 và nhiệm vụ năm 2017 như sau:

A. TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2016

Bên cạnh những thuận lợi, chúng ta đã đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Tăng trưởng kinh tế, thương mại toàn cầu thấp hơn so với dự báo; giá nhiều hàng hóa cơ bản và giá dầu thô ở mức thấp. Tình hình Biển Đông phức tạp. Biến đổi khí hậu diễn ra nhanh hơn dự báo. Thiên tai, rét đậm, rét hại ở phía Bắc, hạn hán kéo dài ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, xâm nhập mặn chưa từng có ở đồng bằng sông Cửu Long, bão lũ và sự cố ô nhiễm môi trường biển ở 4 tỉnh miền Trung đã ảnh hưởng nặng nề đến kinh tế - xã hội nước ta, nhất là sản xuất và đời sống của người dân.

Thực hiện các Nghị quyết của Đảng và Quốc hội, Chính phủ đã chỉ đạo triển khai toàn diện, đồng bộ, quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán NSNN năm 2016, đồng thời tập trung ban hành các cơ chế, chính sách phát triển cho giai đoạn 2016 - 2020. Với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và cộng đồng doanh nghiệp, tình hình kinh tế - xã hội nước ta chuyển biến tích cực và đạt được kết quả quan trọng trên hầu hết các lĩnh vực.

I. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

1. Kinh tế vĩ mô ổn định, các cân đối lớn cơ bản được bảo đảm

Chính phủ đã tập trung chỉ đạo, điều hành linh hoạt, phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa với chính sách tiền tệ và các chính sách khác để kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng.            Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) 9 tháng tăng 3,14%, cả năm ước tăng khoảng 4%. Việc điều chỉnh giá theo cơ chế thị trường đối với dịch vụ giáo dục, y tế được chuẩn bị kỹ và điều hành phù hợp, không gây ảnh hưởng lớn đến mặt bằng giá.

Nợ xấu tiếp tục được xử lý gắn với nâng cao chất lượng tín dụng, bảo đảm thanh khoản và an toàn hệ thống. Tín dụng đối với nền kinh tế đến nay tăng 11,24%. Một số tổ chức tín dụng tiếp tục giảm lãi suất huy động và cho vay khoảng 0,5 - 1,5%. Tỷ giá và thị trường ngoại tệ, thị trường vàng ổn định; dự trữ ngoại hối đạt trên 40 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay.

Quản lý chặt chẽ, chống thất thu ngân sách, chuyển giá, giảm nợ đọng thuế và tăng cường kiểm soát, tiết kiệm chi NSNN. Tổng thu NSNN 9 tháng đạt 70,8% dự toán; ước cả năm tăng 2,4%; bội chi giữ bằng mức Quốc hội thông qua (theo giá trị tuyệt đối).

Huy động vốn cho đầu tư phát triển được đẩy mạnh. Trong 9 tháng, vốn FDI thực hiện tăng 12,4%; vốn ODA và vay ưu đãi giải ngân đạt khoảng 2,7 tỷ USD. Mức vốn hóa thị trường chứng khoán đạt 63% GDP, cao nhất từ trước đến nay; vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài tăng mạnh. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước cả năm đạt 32,5% GDP (kế hoạch là 31,5%).

Đã thực hiện nhiều biện pháp thúc đẩy xuất khẩu trong bối cảnh tăng trưởng thương mại toàn cầu và khu vực giảm mạnh. Tổng kim ngạch xuất khẩu 9 tháng tăng 6,7%, trong đó xuất khẩu nhóm hàng nông lâm thủy sản tăng 7,4% (cùng kỳ giảm hơn 10%); xuất siêu 2,8 tỷ USD. Ước cả năm xuất khẩu tăng 6 - 7%. Công tác quản lý thị trường, giá cả, phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại được tăng cường; bảo đảm tốt cung cầu các mặt hàng thiết yếu, không để xảy ra thiếu hàng, sốt giá.

2. Tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Chính phủ luôn đề cao phương châm lời nói đi đôi với hành động, rút ngắn khoảng cách giữa nói và làm; đã tổ chức Hội nghị với doanh nghiệp, ban hành Nghị quyết 19 về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, Nghị quyết 35 về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp, Nghị quyết 60 về đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công. Thực hiện các giải pháp thúc đẩy đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, xử lý kịp thời hơn các kiến nghị của người dân, doanh nghiệp, đề cao trách nhiệm người đứng đầu. Có chính sách đặc thù để tạo đột phá phát triển cho nhiều địa phương. Công tác xúc tiến đầu tư được triển khai hiệu quả hơn. Thời gian làm thủ tục đăng ký doanh nghiệp rút ngắn còn 1 - 3 ngày. Trong 9 tháng, có trên 81 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và trên 20 nghìn doanh nghiệp hoạt động trở lại. Đã tạo được niềm tin và không khí phấn khởi của người dân, nhà đầu tư, doanh nghiệp.

Tăng trưởng kinh tế quý sau cao hơn quý trước, 9 tháng tăng 5,93%. Khu vực nông nghiệp đang phục hồi, 9 tháng tăng 0,65% (quý I giảm 1,23%, 6 tháng giảm 0,18%). Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,2%. Khu vực dịch vụ tăng 6,66%, cao hơn cùng kỳ. Khách quốc tế đạt 7,26 triệu lượt, tăng 25,7%, cả năm đạt khoảng 9,6 triệu. Tăng trưởng kinh tế cả năm ước đạt 6,3 - 6,5%.

3. Tái cơ cấu kinh tế đạt được một số kết quả bước đầu

Tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp tái cơ cấu kinh tế, tập trung vào các trọng tâm là tái cơ cấu đầu tư công, các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới. Trình Quốc hội Kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế, Kế hoạch tài chính - NSNN và Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020. Triển khai 02 chương trình mục tiêu quốc gia và 21 chương trình mục tiêu. Tiếp tục cơ cấu lại các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu, nhất là các tổ chức tín dụng yếu kém. Tổng kết 10 năm thực hiện tái cơ cấu DNNN, xây dựng Đề án tổng thể cho giai đoạn 2016 - 2020 và Đề án thành lập cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Chỉ đạo đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn và thực hiện đấu giá, niêm yết trên thị trường chứng khoán, bảo đảm công khai minh bạch, không để thất thoát vốn và tài sản của Nhà nước.

Tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới được đẩy mạnh. Từng bước tổ chức lại sản xuất, mở rộng quy mô; tăng cường hợp tác, liên kết, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mùa vụ thích ứng với biến đổi khí hậu; nhân rộng các mô hình hiệu quả. Chương trình xây dựng nông thôn mới đạt nhiều kết quả. Đến nay đã có 27 đơn vị cấp huyện và 2.061 xã đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm tỷ lệ 23%. Đến hết năm 2016, dự kiến có 30 đơn vị cấp huyện và khoảng 2.200 xã đạt chuẩn nông thôn mới (chiếm khoảng 25%).

Tiếp tục triển khai tái cơ cấu các ngành công nghiệp, dịch vụ theo hướng tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh. Thực hiện các chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp công nghệ cao, thân thiện với môi trường, phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng sạch. Cơ cấu nội ngành công nghiệp chuyển dịch tích cực. Tập trung phát triển các ngành dịch vụ có tiềm năng, lợi thế (như du lịch, viễn thông, công nghệ thông tin...). Tổ chức Hội nghị toàn quốc về du lịch và xây dựng Đề án định hướng phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

4. Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của người dân

Đã hoàn thành việc hỗ trợ về nhà ở cho gần 84 nghìn gia đình người có công theo Nghị quyết của Quốc hội; tiếp tục tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Chính sách tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo, học sinh sinh viên và các chính sách hỗ trợ giảm nghèo khác được tiếp tục quan tâm thực hiện. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều đến cuối năm 2016 giảm còn khoảng 8,5%. Thực hiện tốt chính sách bảo trợ xã hội; đã xuất cấp trên 92 nghìn tấn gạo cứu trợ đột xuất và hỗ trợ học sinh vùng khó khăn. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 53%, trong đó đào tạo 3 tháng trở lên có chứng chỉ đạt 21%. Chất lượng dạy nghề được cải thiện, đứng thứ 3 cuộc thi tay nghề ASEAN. Trong 9 tháng, đã tạo việc làm cho gần 1,2 triệu người. Năng suất lao động xã hội tăng khoảng 5,5%. Tổng số người tham gia bảo hiểm xã hội đạt 12,8 triệu, bảo hiểm thất nghiệp đạt 10,8 triệu. Tiếp tục thực hiện các cơ chế, chính sách thúc đẩy hỗ trợ phát triển nhà ở xã hội.

Tăng cường y tế dự phòng; chất lượng khám chữa bệnh và giảm quá tải bệnh viện từng bước được cải thiện. Tập trung nâng cấp, xây mới một số bệnh viện tuyến trung ương, tuyến cuối và các cơ sở y tế vệ tinh. Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, luân chuyển và đào tạo cán bộ cho tuyến dưới. Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính trong khám chữa bệnh; kết nối mạng hơn 14 nghìn cơ sở y tế. Triển khai Hội nghị toàn quốc về đẩy mạnh bảo hiểm y tế toàn dân; dự báo đến cuối năm 2016 tỷ lệ tham gia đạt 80 - 81%; phấn đấu đến năm 2020 có ít nhất 90% dân số tham gia bảo hiểm y tế. Tổ chức Hội nghị toàn quốc và quyết liệt chỉ đạo bảo đảm an toàn thực phẩm. Đổi mới công tác quản lý, sửa đổi quy định về áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; điều trị nghiện bằng thuốc thay thế.

Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Ban hành khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và khung trình độ quốc gia. Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực trong đồng bào dân tộc thiểu số; hoàn thiện chính sách hỗ trợ học sinh, kiên cố hóa trường lớp học và nhà công vụ cho giáo viên ở xã, thôn bản đặc biệt khó khăn. Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi đạt 84,1%, đã có 53/63 tỉnh, thành phố đạt chuẩn. Đổi mới phương pháp dạy học, thi, kiểm tra, đánh giá theo năng lực, phẩm chất người học và quá trình học tập. Tổ chức tốt kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia và tuyển sinh đại học, cao đẳng, bảo đảm nghiêm túc, an toàn, thuận lợi. Tăng cường kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học. Thực hiện chủ trương xã hội hóa trường công lập; đã có 17 trường đại học, cao đẳng công lập thực hiện cơ chế tự chủ. Hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ. Quy hoạch mạng lưới, ban hành và triển khai cơ chế tự chủ các tổ chức khoa học công nghệ công lập. Tạo thuận lợi thúc đẩy phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học công nghệ. Phê duyệt, triển khai Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025”. Đẩy mạnh phát triển thị trường khoa học công nghệ, tăng cường kết nối, tổ chức chợ công nghệ và thiết bị (Techmart) .

Phong trào toàn dân xây dựng đời sống văn hoá được đẩy mạnh. Nhiều di tích, giá trị văn hoá, lịch sử, bản sắc dân tộc được bảo tồn và phát huy. Đạt thành tích cao trong hoạt động thể thao quốc tế; lần đầu tiên giành 02 huy chương vàng Olympic thế giới; tổ chức thành công Đại hội thể thao bãi biển châu Á lần thứ V tại Việt Nam và đạt kết quả đứng thứ nhất toàn đoàn. Chú trọng công tác người cao tuổi, nhân rộng mô hình câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau. Xây dựng trình Quốc hội Luật trẻ em, Luật tôn giáo, tín ngưỡng. Công tác gia đình, vì sự tiến bộ của phụ nữ; chính sách dân tộc tiếp tục được quan tâm thực hiện. Ký kết và triển khai thực hiện Quy chế, Chương trình phối hợp giữa Chính phủ với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ban Dân vận Trung ương. Thông tin truyền thông được đẩy mạnh, nhất là phục vụ Đại hội Đảng, bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các sự kiện quan trọng của đất nước.

5. Ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn, bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên

Đã chủ động tập trung ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai, nhất là hạn hán ở miền Trung, Tây Nguyên, xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long và bão, lũ ở miền Bắc, miền Trung. Chỉ đạo thực hiện các biện pháp cấp bách phòng chống hạn và xâm nhập mặn. Triển khai những dự án trọng điểm ứng phó với biến đổi khí hậu. Tăng cường phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ.

Công tác quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường được chú trọng. Tổ chức Hội nghị toàn quốc, ban hành Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách về bảo vệ môi trường. Hoàn thành giai đoạn 1 việc xử lý ô nhiễm dioxin tại sân bay Đà Nẵng. Khẩn trương, chủ động chỉ đạo xử lý sự cố môi trường biển ở 4 tỉnh miền Trung; thực hiện nhiều biện pháp hỗ trợ sản xuất, đời sống, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Ngoài số gạo xuất cấp và tiền hỗ trợ từ NSNN, sau khi nhận được tiền bồi thường của Formosa, đã có phương án tổng thể và tạm ứng 3.000 tỷ đồng cho 4 tỉnh để chi trả cho người dân. Đồng thời chỉ đạo kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân liên quan trong vụ việc này. Công tác bảo vệ, phát triển rừng gắn với giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số được tiếp tục thực hiện; kiên quyết đóng cửa rừng tự nhiên, xử lý nghiêm các vụ phá rừng. Tỷ lệ che phủ rừng năm 2016 ước đạt 41,15% (kế hoạch là 41%). Tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường là 86% (chỉ tiêu đề ra là 85%).

6. Hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, lãng phí

Xây dựng, trình Quốc hội 20 dự án Luật, Pháp lệnh; ban hành 103 Nghị định, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành pháp luật, đặc biệt là đối với Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp; khắc phục cơ bản tình trạng nợ đọng văn bản. Ban hành và triển khai thực hiện Kế hoạch cải cách hành chính giai đoạn 2016 – 2020. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính. Các địa phương tiếp tục triển khai có hiệu quả cơ chế một cửa, một cửa liên thông, góp phần nâng cao tính công khai minh bạch, giảm thời gian, tiết kiệm chi phí cho người dân, doanh nghiệp.  Khẩn trương kiện toàn tổ chức bộ máy, đổi mới quy chế làm việc; ban hành Chỉ thị tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong cơ quan hành chính nhà nước các cấp. Đã ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ, Nghị định khung và quyết tâm hoàn thành các nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của các bộ, cơ quan ngang bộ ngay trong năm 2016. Thành lập và phát huy vai trò của Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ; hình thành cơ chế thường xuyên kiểm tra, đôn đốc thực hiện nhiệm vụ được giao đối với các ngành, các cấp.

Tổng kết 10 năm thực hiện, xây dựng dự án Luật phòng, chống tham nhũng (sửa đổi). Nghiêm túc triển khai các kết luận của Tổng Bí thư, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng. Ban hành Chỉ thị tăng cường phát hiện, xử lý vụ việc tham nhũng. Nhiều vụ án tham nhũng lớn, xã hội quan tâm đã được đưa ra xét xử. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra. Tập trung chỉ đạo giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhất là các vụ khiếu kiện phức tạp, tồn đọng, kéo dài.

7. Giữ vững chủ quyền quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội

Quốc phòng, an ninh được tăng cường; chủ quyền quốc gia, biển đảo được giữ vững. Nâng cao năng lực thực thi pháp luật trên biển; theo dõi sát, xử lý kịp thời các tình huống xảy ra. Thực hiện các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng - an ninh, nhất là trên các địa bàn trọng điểm. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn việc kích động, gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Bảo đảm tuyệt đối an toàn các sự kiện trọng đại của đất nước. Đẩy mạnh đấu tranh phòng chống tội phạm. Tăng cường các giải pháp phòng chống cháy nổ; bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, tai nạn giảm cả 3 tiêu chí.

8. Hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế đạt nhiều kết quả

Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh; đưa quan hệ với các đối tác đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả. Tăng cường đối ngoại song phương, tạo lợi ích đan xen; tổ chức thành công các chuyến thăm nước ngoài của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đón tiếp các đoàn cấp cao nước ngoài thăm Việt Nam. Triển khai hiệu quả đối ngoại đa phương; chủ động, tích cực tham gia các Hội nghị, diễn đàn cấp cao quốc tế và khu vực. Phản ứng kịp thời, phù hợp với các diễn biến tình hình Biển Đông. Triển khai Chiến lược tổng thể hội nhập quốc tế và xây dựng Đề án thực hiện hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định kinh tế - xã hội trong bối cảnh tham gia các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Đến nay, đã có 64 nước công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường. Chính phủ đã hoàn tất các thủ tục, trình phê chuẩn Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).

II. HẠN CHẾ, YẾU KÉM

1. Tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm đạt thấp so với cùng kỳ (5,93% so với 6,5%). Khu vực nông nghiệp chỉ tăng 0,65% (cùng kỳ 2,08%). Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 7,4% (cùng kỳ 9,9%); trong đó công nghiệp khai khoáng giảm 4,1% (cùng kỳ tăng 8,6%). Dự báo tăng trưởng GDP cả năm thấp hơn kế hoạch đề ra (6,7%). Sản xuất kinh doanh còn nhiều khó khăn; trong 9 tháng có khoảng 45 nghìn doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động và trên 8,3 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể. Tăng trưởng kinh tế không đạt kế hoạch sẽ ảnh hưởng đến các chỉ tiêu khác, trong đó tỷ lệ bội chi NSNN, nợ công, nợ Chính phủ so với GDP có thể cao hơn dự kiến.

2. Xuất khẩu 9 tháng chỉ tăng 6,7% (cùng kỳ tăng 9,1%), dự báo cả năm xấp xỉ đạt kế hoạch; trong đó xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến tăng thấp, chỉ đạt 8,5% (cùng kỳ 18,6%); xuất khẩu vào khu vực ASEAN giảm 9,1%. Quản lý thị trường trong nước và thương mại biên giới có mặt còn bất cập. Buôn lậu, gian lận thương mại diễn biến phức tạp; mới giải quyết được bước đầu tình trạng vật tư nông nghiệp giả, kém chất lượng; diễn ra nhiều vụ lừa đảo bán hàng đa cấp, tín dụng đen, gây bức xúc xã hội.

3. Thu ngân sách khó khăn, 9 tháng đạt thấp hơn cùng kỳ (70,8% so với 74,9%), trong đó thu ngân sách trung ương chỉ đạt 61%; nợ đọng thuế còn lớn. Triển khai kế hoạch vốn đầu tư công chậm. Một số dự án sử dụng vốn đầu tư công hiệu quả thấp; nợ đọng xây dựng cơ bản lớn. Quản lý sử dụng tài sản công, chi tiêu công còn lãng phí. Nợ công cao, áp lực trả nợ lớn.  

4. Tái cơ cấu nhiều ngành, lĩnh vực còn chậm. Xử lý nợ xấu và các ngân hàng thương mại yếu kém gặp nhiều khó khăn, kết quả thấp. Các thị trường vốn, chứng khoán, bất động sản phát triển chưa bền vững. Tái cơ cấu, cổ phần hóa DNNN, thoái vốn đầu tư ngoài ngành chưa đạt kế hoạch. Số lượng doanh nghiệp được cổ phần hóa lớn nhưng tỷ lệ vốn bán ra đạt thấp. Một số DNNN kém hiệu quả, thua lỗ kéo dài, chưa công khai minh bạch kết quả sản xuất kinh doanh; nhiều dự án đầu tư lớn của các tập đoàn, tổng công ty chậm tiến độ, thua lỗ, lãng phí, phải dừng đầu tư, dừng hoạt động; công tác quản lý cán bộ còn nhiều bất cập, chưa kịp thời phát hiện và xử lý vi phạm, có trường hợp để xảy ra hậu quả nghiêm trọng.

Tái cơ cấu nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ ở nhiều địa phương triển khai chậm, còn lúng túng. Xây dựng nông thôn mới ở một số nơi chưa quan tâm đúng mức đến phát triển sản xuất và nâng cao thu nhập của người dân; có địa phương còn lạm thu, kể cả đối với người nghèo, đối tượng chính sách; nợ xây dựng nông thôn mới ở một số địa phương còn lớn. Phát triển công nghiệp hỗ trợ chậm. Quản lý du lịch còn nhiều bất cập. Sự cố môi trường biển nghiêm trọng tác động tiêu cực đến sản xuất kinh doanh, du lịch, dịch vụ và an ninh trật tự, ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập, đời sống nhân dân ở một số tỉnh miền Trung.

5. Đời sống người dân còn khó khăn, nhất là vùng bị thiên tai, bão lũ, hạn hán, xâm nhập mặn và sự cố môi trường. Mất an toàn thực phẩm xảy ra ở nhiều nơi, gây bức xúc xã hội. Công tác khám, chữa bệnh và quản lý dịch vụ ở một số bệnh viện còn yếu kém. Chất lượng giáo dục, nhất là đại học, dạy nghề chuyển biến chậm, chưa thật sự gắn với nhu cầu xã hội. Ứng dụng khoa học công nghệ, phát triển thị trường gặp nhiều khó khăn, số lượng doanh nghiệp ít, quy mô nhỏ. Tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống chậm được khắc phục. Giải quyết nhà ở và thiết chế văn hóa cho công nhân ở khu công nghiệp tập trung còn khó khăn. Chưa thu hút được các thành phần kinh tế tham gia phát triển nhà ở xã hội. Xảy ra nhiều vụ trẻ em bị tai nạn thương tích, đuối nước. Quản lý thông tin truyền thông còn bất cập, có nhiều vi phạm trong hoạt động báo chí.

6. Thiên tai, biến đổi khí hậu gây thiệt hại lớn. Tình trạng ô nhiễm môi trường diễn ra ở nhiều nơi, chất lượng môi trường bị xuống cấp, chậm được cải thiện. Công tác nắm tình hình, phát hiện, xử lý vi phạm về môi trường chưa kịp thời. Đánh giá tác động môi trường đối với nhiều dự án đầu tư còn hình thức; kiểm tra, giám sát việc thực thi còn yếu. Xảy ra nhiều vụ chặt phá rừng trái phép. Tình trạng úng ngập xảy ra nghiêm trọng tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội.

7. Kỷ luật kỷ cương trong bộ máy hành chính và trong xã hội còn chưa nghiêm. Năng lực, phẩm chất của một bộ phận cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu. Sắp xếp bộ máy, tinh giản biên chế còn chậm. Phối hợp giữa các bộ ngành, địa phương thiếu chặt chẽ. Một số quy định pháp luật còn sai sót, chưa bảo đảm tính khả thi. Tổ chức thực hiện và thi hành chính sách, pháp luật còn nhiều yếu kém, bất cập. Việc xây dựng Chính phủ điện tử chậm; ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước chưa thật sự mạnh mẽ. Thanh tra, kiểm tra, giám sát và phản biện xã hội hiệu quả chưa cao. Tình trạng tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng.

8. Đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia, công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế còn nhiều khó khăn, thách thức. Tình hình tội phạm, trật tự an toàn xã hội trên một số lĩnh vực, địa bàn diễn biến phức tạp. Xảy ra nhiều vụ án hình sự, chống người thi hành công vụ và tai nạn giao thông, cháy nổ nghiêm trọng. Việc bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng có nhiều hạn chế. Công tác chuẩn bị, dự báo, đánh giá tác động và ứng phó với các thách thức trong hội nhập có mặt chưa chủ động.

Đánh giá chung, mặc dù còn nhiều khó khăn, hạn chế nhưng tình hình kinh tế - xã hội nước ta tiếp tục chuyển biến tích cực, đạt kết quả khá toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát; sản xuất kinh doanh tiếp tục phát triển; tái cơ cấu nền kinh tế đạt một số kết quả; đầu tư khu vực tư nhân chuyển biến mạnh mẽ; niềm tin của xã hội và thị trường tăng lên. Các trung tâm kinh tế lớn tiếp tục phát huy vai trò đầu tầu tăng trưởng, làm động lực phát triển của các vùng và cả nước; nhiều địa phương khó khăn đã nỗ lực vươn lên.          Văn hóa, xã hội có tiến bộ; an sinh xã hội được bảo đảm; đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện. Quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu được chú trọng. Cải cách hành chính, môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh có tiến bộ. Phòng chống tham nhũng, lãng phí được chỉ đạo quyết liệt. Quốc phòng, an ninh được tăng cường, giữ vững thế chủ động chiến lược và chủ quyền quốc gia. Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế đạt nhiều kết quả.

Trên cơ sở kết quả 9 tháng, với quyết tâm, nỗ lực phấn đấu trong những tháng còn lại, dự báo năm 2016 có 11/13 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch; 02 chỉ tiêu về tăng trưởng GDP và xuất khẩu xấp xỉ đạt. Trong bối cảnh gặp nhiều khó khăn, thách thức, kết quả đạt được trên đây thể hiện nỗ lực rất lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân.

Những ngày vừa qua, lũ lụt nghiêm trọng xảy ra gây thiệt hại nặng nề; cả nước đang chung tay hỗ trợ để đồng bào miền Trung sớm ổn định đời sống và sản xuất. Từ nay đến cuối năm, chúng ta vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, giám sát của Quốc hội, sự chỉ đạo điều hành của Chính phủ, các ngành, các cấp, nhân dân cả nước và cộng đồng doanh nghiệp tiếp tục thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp, trong đó tập trung ổn định kinh tế vĩ mô, tạo mọi thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng; phấn đấu hoàn thành cao nhất các mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch đề ra.

B. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2017

Tình hình thế giới năm 2017 dự báo tiếp tục diễn biến phức tạp; kinh tế thế giới có thể tăng cao hơn năm 2016 nhưng vẫn phục hồi chậm, không đồng đều và còn nhiều rủi ro. Giá một số hàng hóa cơ bản và dầu thô vẫn ở mức thấp. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ở khu vực diễn ra gay gắt. Tình hình Biển Đông tiếp tục căng thẳng, khó lường. Ở trong nước, bên cạnh những thuận lợi, chúng ta vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém. Năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh còn thấp trong khi thế giới đang bước vào Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Việc thực hiện Chương trình nghị sự 2030 của Liên hợp quốc về phát triển bền vững và thực hiện các cam kết hội nhập quốc tế, nhất là các Hiệp định FTA thế hệ mới mở ra nhiều cơ hội thuận lợi nhưng cũng đặt ra không ít khó khăn, thách thức. Nhu cầu tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia và ứng phó với biến đổi khí hậu rất lớn trong khi nguồn lực còn hạn hẹp.

I. MỤC TIÊU TỔNG QUÁT VÀ CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU

1. Mục tiêu tổng quát:

Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, tạo chuyển biến rõ rệt trong thực hiện 3 đột phá chiến lược, tái cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, khuyến khích khởi nghiệp, phát triển doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng. Nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế. Bảo đảm an sinh xã hội và chăm lo đời sống nhân dân. Phát triển văn hóa, thực hiện dân chủ và tiến bộ, công bằng xã hội. Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai; tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Tiếp tục hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật; đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường kỷ luật, kỷ cương. Giữ thế chủ động chiến lược, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo đảm an ninh quốc gia, ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế, tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

2. Các chỉ tiêu chủ yếu:

a) Về kinh tế: Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng khoảng 6,7%;        tốc độ tăng giá tiêu dùng bình quân khoảng 4%; tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 6 - 7%; tỷ lệ nhập siêu so với tổng kim ngạch xuất khẩu khoảng 3,5%;   tỷ lệ bội chi NSNN so với GDP không quá 3,5%; tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội khoảng 31,5% GDP; tỷ suất tiêu hao năng lượng trên một đơn vị GDP giảm 1,5%.

b) Về xã hội: Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều) giảm 1 - 1,5%, riêng các huyện nghèo giảm 4%; tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 55 - 57%, trong đó đào tạo từ 3 tháng trở lên có chứng chỉ đạt 22,5%; số giường bệnh trên một vạn dân đạt 25,5 giường (không tính giường trạm y tế xã); tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 82,2%.

c) Về môi trường: Tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường 87%; tỷ lệ che phủ rừng đạt 41,45%.

II. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1. Ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế

Điều hành hiệu quả, phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra. Nâng cao năng lực dự báo và ứng phó kịp thời với những biến động trong nước và quốc tế. Thực hiện chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, hiệu quả; điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát và thị trường tiền tệ; nâng cao chất lượng và bảo đảm vốn tín dụng cho nền kinh tế, nhất là các lĩnh vực ưu tiên (nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, ứng dụng công nghệ cao...). Quản lý hiệu quả thị trường ngoại tệ, vàng; phấn đấu tăng dự trữ ngoại hối nhà nước.

Thực hiện chính sách tài khoá chặt chẽ, siết chặt kỷ luật tài chính - NSNN. Tập trung chống thất thu, chuyển giá, mở rộng cơ sở thuế, giảm nợ đọng thuế. Triệt để tiết kiệm chi; gắn việc bố trí các dự án, nhiệm vụ chi với khả năng cân đối nguồn lực. Từng bước thực hiện khoán chi hành chính, đấu thầu, đặt hàng, mua hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công. Cơ cấu lại NSNN theo hướng tăng dần tỷ trọng thu nội địa, tỷ trọng chi đầu tư và giảm dần tỷ trọng chi thường xuyên, bảo đảm chi trả nợ. Phấn đấu giảm bội chi NSNN. Tăng cường quản lý và sử dụng hiệu quả nợ công; chú trọng kiểm tra, giám sát sử dụng vốn vay, nhất là vay về cho vay lại, khắc phục tình trạng các khoản vay bị tăng chi phí do chậm tiến độ và hạn chế tối đa cấp bảo lãnh mới.

Đẩy mạnh huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển, trong đó nghiên cứu, ban hành các cơ chế, chính sách phù hợp để huy động nguồn lực vàng và ngoại tệ trong xã hội. Tăng cường quản lý, giám sát đầu tư công, chống thất thoát, lãng phí. Thu hút mạnh đầu tư ngoài nhà nước, kể cả khu vực FDI tham gia phát triển kết cấu hạ tầng; hoàn thiện cơ chế quản lý, giám sát và chính sách thu phí, bảo đảm công khai, minh bạch. Phát triển ổn định và nâng cao hiệu quả hoạt động của các thị trường chứng khoán, trái phiếu, bất động sản.

Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác dự báo thị trường, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu gắn với xây dựng thương hiệu hàng Việt Nam, tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu. Rà soát, đơn giản hóa thủ tục xuất nhập khẩu, thực hiện hiệu quả Cơ chế một cửa quốc gia, tăng cường kiểm tra liên ngành, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, giảm thời gian và chi phí theo tinh thần Nghị quyết 19 của Chính phủ. Hỗ trợ doanh nghiệp chủ động hội nhập, tham gia hiệu quả Cộng đồng ASEAN và các Hiệp định thương mại tự do (FTA). Phát triển hệ thống bán lẻ, gắn sản xuất với tiêu thụ hàng nội địa. Tăng cường quản lý thị trường, phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại, lừa đảo bán hàng đa cấp, tín dụng đen. Tiếp tục thực hiện lộ trình giá thị trường đối với các dịch vụ y tế, giáo dục... gắn với hỗ trợ đối tượng chính sách, hộ nghèo.

2. Tập trung tháo gỡ khó khăn, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng

Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về quy hoạch, đầu tư kinh doanh. Trình Quốc hội dự án Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; sửa đổi quy chế bảo lãnh tín dụng và Quỹ bảo lãnh tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Triển khai hiệu quả Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật liên quan đến đầu tư, kinh doanh khi được Quốc hội thông qua.

Đề ra mục tiêu cụ thể đối với từng bộ ngành, địa phương, tạo chuyển biến rõ nét trong tổ chức thực hiện Nghị quyết 19 về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh. Tăng cường kiểm tra, giám sát thực hiện, nhất là về đơn giản hóa thủ tục hành chính, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, cung cấp dịch vụ công trực tuyến, tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp. Phấn đấu năm 2017 đạt các chỉ tiêu về môi trường kinh doanh tối thiểu bằng mức trung bình của ASEAN-4.

Kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, xóa bỏ rào cản, phát triển mạnh doanh nghiệp, thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo theo tinh thần Nghị quyết 35 của Chính phủ. Thu hút đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia gắn với phát triển doanh nghiệp trong nước và công nghiệp hỗ trợ. Phát triển doanh nghiệp khoa học công nghệ; nâng cao hiệu quả hoạt động của các quỹ, phát triển thị trường khoa học công nghệ gắn với bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

Thực hiện có hiệu quả các chính sách ưu đãi, nhất là về thuế, tín dụng, đất đai, nhân lực để hỗ trợ sản xuất kinh doanh, khuyến khích ứng dụng công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, khuyến nông, sản xuất chế biến tiêu thụ nông sản. Đẩy mạnh phát triển hợp tác xã kiểu mới và các mô hình kinh tế hợp tác hiệu quả.

3. Tái cơ cấu kinh tế một cách thực chất, gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh

Triển khai Nghị quyết Trung ương về một số chính sách, giải pháp lớn đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh. Ban hành và thực hiện Đề án tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế và các đề án tái cơ cấu ngành, lĩnh vực giai đoạn 2016 - 2020. Thực hiện hiệu quả các chương trình khoa học và công nghệ quốc gia; phấn đấu số doanh nghiệp thực hiện đổi mới công nghệ tăng 15%, trong đó có 5% doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Tập trung chỉ đạo đạt kết quả rõ nét hơn các ngành, lĩnh vực có tiềm năng, thế mạnh như nông nghiệp, du lịch, công nghệ thông tin...

Triển khai thực hiện Kế hoạch đầu tư công trung hạn, tập trung vốn cho các dự án phát triển hạ tầng trọng điểm, tạo sức lan tỏa và kết nối phát triển. Tiếp tục bố trí vốn xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản và hoàn trả vốn NSNN ứng trước. Hoàn thiện định mức kinh tế kỹ thuật trong đầu tư xây dựng cơ bản, trước mắt có giải pháp phù hợp, áp dụng ngay để tiết kiệm vốn đầu tư công. Chuẩn bị triển khai dự án Cảng Hàng không quốc tế Long Thành. Thực hiện theo tiến độ một số đoạn của Tuyến đường bộ cao tốc Bắc - Nam và một số đoạn quan trọng trên Tuyến đường bộ ven biển. Hoàn thiện báo cáo nghiên cứu khả thi Tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam.

Ban hành và triển khai thực hiện hiệu quả Đề án tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 - 2020. Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nhất là về xử lý tài sản thế chấp, thúc đẩy phát triển thị trường mua bán nợ, xác định đầy đủ, xử lý căn bản, triệt để hơn nợ xấu và các ngân hàng thương mại yếu kém; giảm tình trạng sở hữu chéo trong các tổ chức tín dụng, bảo đảm an toàn hệ thống. Khuyến khích huy động vốn qua thị trường chứng khoán, đổi mới phương thức và nâng cao chất lượng giám sát thị trường; sáp nhập 2 Sở giao dịch và nâng cao chất lượng dịch vụ chứng khoán.

Triển khai Kế hoạch tổng thể tái cơ cấu DNNN giai đoạn 2016 - 2020. Đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn theo cơ chế thị trường. Thành lập cơ                 quan chuyên trách đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp.       Nâng cao năng lực quản trị, hiệu quả hoạt động của DNNN, khi cổ phần hóa phải đăng ký, niêm yết trên thị trường chứng khoán. Đối với các DNNN thua lỗ kéo dài, mất vốn chủ sở hữu mà không thể tháo gỡ được thì xem xét, cho bán hoặc phá sản theo quy định của pháp luật. Đẩy mạnh sắp xếp, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp. Xây dựng và thực hiện Kế hoạch giao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập giai đoạn 2016 - 2020; đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ công, cổ phần hóa các đơn vị sự nghiệp công lập có đủ điều kiện, kiên quyết tinh giản biên chế và giảm chi từ NSNN, quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập. Thực hiện công khai, minh bạch trong tái cơ cấu DNNN và đơn vị sự nghiệp công lập, chống thất thoát, tiêu cực, lợi ích nhóm, nhất là trong xác định giá trị quyền sử dụng đất, thuê đất để tính giá trị doanh nghiệp.

Tập trung tái cơ cấu nông nghiệp gắn với thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020. Có chính sách phù hợp để khuyến khích tích tụ ruộng đất gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn. Thực hiện hiệu quả quy hoạch các khu, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Thu hút mạnh doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; khuyến khích áp dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học; nhân rộng các mô hình sản xuất hiệu quả, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, bảo đảm an toàn thực phẩm, thích ứng với biến đổi khí hậu. Tăng cường huy động nguồn lực, giảm nợ đọng xây dựng nông thôn mới. Quy hoạch lại đất đai và cơ cấu sản xuất ở các vùng bị hạn hán, xâm nhập mặn. Tăng cường kiểm soát chất lượng giống, vật tư nông nghiệp; thanh tra, kiểm tra an toàn thực phẩm; chấn chỉnh hệ thống giám sát và kiểm định chất lượng. Điều hành xuất khẩu gạo phù hợp, bảo đảm an ninh lương thực và cân đối xuất khẩu. Thực hiện nghiêm chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên. Phát triển các ngành kinh tế biển, hỗ trợ diêm dân, ngư dân đánh bắt xa bờ, người dân sinh sống trên các đảo gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp điện tử, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ thông tin, sinh học, môi trường; chú trọng các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, có khả năng tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Khuyến khích đổi mới công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và phát triển năng lượng tái tạo. Ưu tiên thu hút các dự án đầu tư sử dụng công nghệ cao, thân thiện môi trường; chuẩn hóa mức tiêu hao năng lượng đối với một số ngành công nghiệp cơ bản.

Tập trung tháo gỡ khó khăn, phát triển các ngành dịch vụ có hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng cao. Xây dựng Chiến lược xuất khẩu dịch vụ đến năm 2030; tăng cường hội nhập, nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ. Thực hiện hiệu quả các giải pháp phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ, đơn giản hóa thủ tục xuất nhập cảnh, bảo đảm an ninh an toàn cho du khách. Triển khai thí điểm cấp thị thực điện tử từ đầu năm 2017 sau khi được Quốc hội cho phép.

4. Phát triển văn hóa, xã hội, chăm lo đời sống cho người dân

Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện hiệu quả chính sách người có công; tổ chức các hoạt động kỷ niệm 70 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ; quan tâm hỗ trợ nhà ở, tìm kiếm, quy tập hài cốt, xác định danh tính liệt sĩ. Tích cực triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững theo chuẩn đa chiều và các chương trình mục tiêu về an sinh xã hội; ưu tiên nguồn lực phát triển vùng khó khăn, vùng biên giới hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Trình Quốc hội dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động. Phát triển thị trường lao động, nâng cao chất lượng dạy nghề. Hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội. Thực hiện nghiêm quy định về an toàn, vệ sinh lao động. Tăng cường quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam. Chú trọng phòng chống tệ nạn xã hội. Thúc đẩy các kênh huy động vốn, phát triển nhà ở xã hội.

Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh; tăng cường y tế dự phòng, đổi mới mạnh mẽ công tác y tế cơ sở, thực hiện tốt vai trò chăm sóc sức khỏe ban đầu. Khẩn trương hoàn thành một số bệnh viện tuyến trung ương và tuyến cuối. Đẩy mạnh xã hội hóa, phát triển y tế ngoài công lập và hợp tác công tư trong khám chữa bệnh. Đẩy nhanh thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân gắn với hỗ trợ phù hợp cho đối tượng chính sách, người nghèo; khắc phục tình trạng lạm dụng bảo hiểm y tế. Tăng cường trách nhiệm và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước của các cấp chính quyền địa phương về an toàn thực phẩm, thúc đẩy việc hình thành các chuỗi thực phẩm an toàn. Xử lý nghiêm việc kinh doanh, sử dụng chất cấm, nhất là trong sản xuất và chế biến nông sản. Đẩy mạnh truyền thông và thực hiện các giải pháp phát triển dân số bền vững, giảm mất cân bằng giới tính khi sinh.

Tiếp tục triển khai đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông; phát triển toàn diện năng lực, thể chất, nhân cách, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên. Rà soát, hoàn thiện quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục và đào tạo; nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục. Có cơ chế tài chính hợp lý, bảo đảm giáo dục phổ cập. Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện hiệu quả các chính sách hỗ trợ phát triển giáo dục đào tạo cho các vùng khó khăn và các đối tượng chính sách. Khuyến khích xã hội hóa đầu tư phát triển các trường chất lượng cao. Nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh. Gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, khởi nghiệp. Đẩy mạnh kiểm định chất lượng giáo dục. Tăng cường giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

Khuyến khích mạnh mẽ nghiên cứu, đổi mới sáng tạo; phát triển                      thị trường khoa học công nghệ. Xây dựng và triển khai Chiến lược sở hữu trí tuệ quốc gia. Thúc đẩy liên kết, hợp tác giữa các tổ chức nghiên cứu với doanh nghiệp, coi doanh nghiệp là trung tâm đổi mới, sáng tạo.                Nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí nghiên cứu khoa học và hoạt động của các quỹ khoa học công nghệ công lập. Chú trọng đào tạo, phát triển đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ trình độ cao.

Thực hiện hiệu quả Nghị quyết Trung ương về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam; bảo tồn, phát huy các giá trị, di sản văn hóa dân tộc; tập trung ngăn chặn suy thoái đạo đức. Chủ động hợp tác và giao lưu quốc tế, quảng bá văn hoá Việt Nam và tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hoá thế giới. Đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư và trong xây dựng nông thôn mới. Quan tâm phát triển thể dục thể thao, bồi dưỡng tài năng trẻ. Chú trọng công tác người cao tuổi, người khuyết tật, gia đình, phụ nữ, trẻ em, thanh thiếu niên. Hoàn thiện các chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số.

5. Chủ động ứng phó biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường, tăng cường quản lý tài nguyên

Tiếp tục rà soát, hoàn thiện quy định pháp luật, cơ chế chính sách về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu. Cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu, nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo và chủ động phòng chống, giảm nhẹ thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn, ưu tiên những vùng bị ảnh hưởng nặng nề. Thực hiện hiệu quả các cam kết quốc tế COP-21 của Liên hợp quốc.

Hoàn thiện quy hoạch và tăng cường quản lý khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, khoáng sản. Quản lý chặt chẽ việc sử dụng đất. Khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn nước; nghiên cứu xây dựng chiến lược an ninh nguồn nước; chủ động hợp tác quốc tế trong việc sử dụng bền vững nguồn nước xuyên quốc gia. Kiên quyết ngăn chặn tình trạng khai thác trái phép các loại tài nguyên, khoáng sản.

Quyết liệt bảo vệ môi trường; triển khai xây dựng các trạm quan trắc môi trường, tài nguyên nước và tài nguyên, môi trường biển. Thực hiện nghiêm quy định về bảo vệ và phát triển rừng; bảo tồn đa dạng sinh học. Tập trung cải thiện chất lượng môi trường, xử lý ô nhiễm, nhất là tại các làng nghề, khu, cụm công nghiệp, khu kinh tế, khu dân cư tập trung ở nông thôn, các lưu vực sông, hồ, vùng ven biển, cơ sở sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm nặng. Kiểm soát chặt chẽ việc đánh giá tác động môi trường, kiên quyết không cấp phép đối với các dự án gây ô nhiễm. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và kiểm soát bảo đảm việc tuân thủ quy định về quản lý, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường; xử lý nghiêm, kịp thời các vi phạm.

6. Xây dựng nền hành chính hiệu lực hiệu quả, kỷ luật kỷ cương

Tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng xây dựng Luật, Pháp lệnh và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, không để nợ đọng. Tập trung xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp. Đơn giản hóa thủ tục, tăng cường công khai, minh bạch, cải tiến quy trình, rút ngắn thời gian, giảm chi phí; thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông; nhân rộng mô hình trung tâm hành chính tập trung tại những địa phương có đủ điều kiện. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng Chính phủ điện tử. Hình thành cơ chế tương tác giữa Chính phủ, các ngành, các cấp với doanh nghiệp qua Cổng Thông tin điện tử. Hoàn thiện, đổi mới quy chế làm việc, phân công rõ nhiệm vụ, khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm. Tăng cường kỷ luật kỷ cương, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong việc thực hiện chỉ đạo của cơ quan hành chính cấp trên và người đứng đầu cơ quan, đơn vị. Tổ chức thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.

Rà soát, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy hành chính nhà nước. Tăng cường thanh tra, kiểm tra công vụ, xử lý nghiêm các hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực, vi phạm pháp luật. Đổi mới công tác quản lý và thực hiện tốt chính sách cán bộ. Kiên quyết thực hiện tinh giản biên chế theo Nghị quyết 39 của Bộ Chính trị; đối với hệ thống hành chính nhà nước sẽ giảm 1,5% (tương ứng với 3.868 người) trong tổng biên chế theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Đẩy mạnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong cơ quan nhà nước và trong toàn xã hội. Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, tập trung vào các lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng. Phát hiện, xử lý nghiêm các vụ tham nhũng, tập trung xử lý các vụ án lớn, xã hội quan tâm. Nâng cao hiệu quả thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Làm tốt công tác tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý kiến nghị của người dân, doanh nghiệp.

7. Giữ vững độc lập, chủ quyền, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

Triển khai thực hiện hiệu quả Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tăng cường tiềm lực và phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh. Củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân. Phát triển kinh tế kết hợp với quốc phòng, an ninh, nhất là ở vùng biên giới, hải đảo. Sẵn sàng ứng phó, khắc phục kịp thời, hiệu quả các sự cố, thiên tai và cứu hộ, cứu nạn. Đẩy mạnh đối ngoại quốc phòng, an ninh, tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc.

Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia. Theo dõi sát tình hình Biển Đông, chủ động có những giải pháp phù hợp, yêu cầu các bên tôn trọng tiến trình ngoại giao, pháp lý, tuân thủ luật pháp quốc tế, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, thực hiện đầy đủ DOC và thúc đẩy sớm đạt được COC. Phấn đấu đạt kết quả thực chất trong giải quyết các vấn đề biên giới, lãnh thổ.

Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.                Đẩy mạnh phòng chống tội phạm. Triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp bảo đảm trật tự, an toàn giao thông gắn với thực hiện nghiêm công tác quản lý quy hoạch đô thị nhất là ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, phấn đấu giảm ùn tắc giao thông, giảm tai nạn trên cả 3 tiêu chí; tăng cường phòng chống cháy nổ.

8. Nâng cao hiệu quả đối ngoại và hội nhập quốc tế

Chủ động làm sâu sắc, thực chất hơn quan hệ với các nước và đối tác. Tích cực tham gia Cộng đồng ASEAN, tổ chức tốt Hội nghị Cấp cao APEC 2017. Triển khai Nghị quyết của Trung ương về thực hiện hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội. Chủ động đẩy nhanh công tác chuẩn bị thực hiện FTA với EU, Hiệp định TPP. Nâng cao năng lực giải quyết tranh chấp thương mại, đầu tư quốc tế. Làm tốt công tác người Việt Nam ở nước ngoài, bảo hộ công dân, nhất là ngư dân. Tạo mọi điều kiện thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài tham gia, đóng góp ngày càng hiệu quả, thiết thực cho phát triển đất nước.

9. Đẩy mạnh thông tin truyền thông, tạo đồng thuận xã hội

Tăng cường quản lý nhà nước về thông tin truyền thông. Thực hiện nghiêm quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin về tình hình kinh tế - xã hội, chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, chỉ đạo điều hành của Chính phủ, các bộ ngành, địa phương và những vấn đề xã hội quan tâm. Tập trung tuyên truyền xây dựng xã hội lành mạnh, sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật. Biểu dương, khen thưởng kịp thời và xử lý nghiêm các vi phạm trong hoạt động báo chí. Bảo đảm an toàn, an ninh thông tin mạng.

Thưa Quốc hội,

Trong bối cảnh quốc tế và trong nước còn nhiều khó khăn, thách thức, nhiệm vụ đặt ra là rất nặng nề. Dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ sẽ quyết liệt hành động, ra sức khắc phục hạn chế, yếu kém, nỗ lực phấn đấu đạt mức cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu năm 2016 và thực hiện thành công kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017.

Chính phủ trân trọng đề nghị và mong nhận được sự ủng hộ, giám sát của Quốc hội, Chủ tịch nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể nhân dân và đồng bào, cử tri cả nước.

Xin trân trọng cảm ơn Quốc hội./.

 

Phụ lục

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU KẾ HOẠCH CHỦ YẾU NĂM 2016

__________


 

STT

Chỉ tiêu

Đơn vị

Kế hoạch năm 2016

Ước thực hiện năm 2016

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP)

%

6,7

6,3 - 6,5

Tốc độ tăng tổng kim ngạch xuất khẩu

%

10

6 - 7

Tỷ lệ nhập siêu so với tổng kim ngạch xuất khẩu

%

<5

Xuất siêu 0,6

Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội so với GDP

%

31

32,5

Chỉ số tăng giá tiêu dùng (CPI)

%

<5

4,5 - 5

Giảm tỷ suất tiêu hao năng lượng trên một đơn vị GDP

%

1,5

1,5

Giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều

Riêng các huyện nghèo giảm

%


%

1,3 - 1,5


4

1,3 - 1,5


4

Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị

%

<4

3,42

Tỷ lệ lao động qua đào tạo trong tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế

%

53

53

Trong đó: Tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 3 tháng trở lên có văn bằng, chứng chỉ công nhận kết quả đào tạo

%

21

21

Số giường bệnh trên 1 vạn dân (không tính giường trạm y tế xã)

Giường bệnh

24,5

25

Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế

%

76

80 - 81

Tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường

%

85

86

Tỷ lệ che phủ rừng

%

41

41,15