Dưới đây là tổng quan các loại xe tăng hiện đại của Trung Quốc, trong đó có những loại xe tăng mà giới lãnh đạo quân đội Trung Quốc coi là nền tảng của các đơn vị xe tăng quân đội Trung Quốc trong 25 năm đầu thế kỷ XX

Năm 1984, tổng công ty sản xuất vũ khí nhà nước Trung Quốc NORINCO đã phát triển loại xe tăng chủ lực mới Type 80-I. Xe tăng này có thân xe kiểu hàn, thiết kế mới với vỏ giáp nhiều lớp ở phần đầu xe và bộ phận vận hành mới với 6 bánh lăn. Tháp xe hoàn toàn lấy từ xe tăng Туре 79, nhưng độ dày phần mặt trước tháp tăng lên đến 250 mm. Trên xe Type 80-I có lắp pháo nòng rãnh 105 mm và hệ thống điều khiển hỏa lực Type 37A. Thiết bị đo xa laser được bố trí trên mặt nạ pháo (Tấm giáp che phần gốc nòng pháo trên tháp xe).

Không lâu sau đã xuất hiện biến thể cải tiến Type 80-II. Những thay đổi chính liên quan đến hệ thống điều khiển hỏa lực - thiết bị đo xa laser đã được tích hợp với máy ngắm của pháo thủ và đẩy vào dưới vỏ giáp. Xuất hiện hệ thống phòng hộ tập thể chống vũ khí hủy diệt lớn (NBC) và xích xe lắp guốc cao su chạy đường nhựa tháo lắp được. Type-80-II được Trung Quốc tích cực giới thiệu tại các triển lãm vũ khí quốc tế, nhưng không ký được hợp đồng xuất khẩu nào. Trung Quốc cũng đã thử nghiệm lắp cho xe tăng này pháo nòng trơn 125 mm sao chép pháo 2А46 của Liên Xô. Xe tăng này được đặt tên là Type 80-III.

Sau mấy năm thử nghiệm toàn diện, Type 80-II đã được đưa vào trang bị cho quân đội Trung Quốc với tên Type 88.

Type 88

Xe tăng chủ lực Type 88 có thiết kế truyền thống với khoang động cơ-truyền lực bố trí ở đuôi xe. Thân xe kiểu hàn, vỏ giáp nhiều lớp ở đầu xe. Tháp đúc hình bán cầu giống với cấu tạo tháp xe tăng Type 79. Bố trí kíp xe 4 người theo kiểu quen thuộc, giống như tất cả các xe tăng trước đó của Trung Quốc (và Liên Xô cho đến Т-62). Lái xe ngồi trong phần trước thân xe, bên trái, trưởng xe và pháo thủ ở trong tháp, bên trái pháo, pháo thủ nạp đạn ở trong tháp, bên phải.

Trên xe tăng lắp pháo nòng rãnh 83 cỡ 105 mm, được ổn định 2 mặt phẳng. Pháo có áo cách nhiệt làm bằng hợp kim nhôm. Góc dẫn theo phương đứng (góc tầm) là từ -4 đến +18 độ. Các loại đạn biên chế gồm đạn xuyên giáp dưới cỡ, vạch đường có sơ tốc 1.455 m/s, đạn xuyên lõm, vạch đường (1173 m/s) và đạn phá-mảnh (850 m/s). Cơ số đạn pháo trên xe gồm 48 phát bắn để trên các giá đạn trong khoang chiến đấu và khoang lái. Tốc độ bắn 7 phát/phút; nạp đạn bằng tay.

Xe tăng được trang bị hệ thống điều khiển hỏa lực cải tiến Type 37A phát triển với sự hợp tác của hãng Marconi của Anh. Hệ thống điều khiển hỏa lực gồm bộ ổn định pháo, các máy ngắm kết hợp của trưởng xe và pháo thủ, thiết bị đo xa laser được tích hợp vào máy ngắm của pháo thủ, và máy tính đường đạn. Tất cả các khí tài quang đều có lớp phủ đặc biệt để bảo vệ chống bức xạ hạt nhân. Ngoài ra, còn lắp hệ thống lắp liền chuyên dụng cân chỉnh các máy ngắm mà cả trưởng xe và pháo thủ đều có thể sử dụng.

Vũ khí bổ trợ bao gồm: súng máy đồng trục 7,62 mm và súng máy phòng không 12,7 mm  lắp trên giá súng ở cửa nắp dành cho pháo thủ nạp đạn. Hai bên sườn tháp lắp mỗi bên 4 ống phóng lựu khói bố trí 2 ống một cụm. Trưởng xe và pháo thủ đều có thể điều khiển bắn các ống phóng lựu khói. Phía sau các ống phóng lựu khói bố trí các hòm chứa đạn lựu khói dự trữ. Ở phần đuôi tháp có giỏ dạng lưới để chứa đồ dùng, gắn với thùng chứa ống thông hơi của bộ thiết bị lội ngầm.

Trên xe lắp động cơ diesel tăng áp VR36 (12150L-BW) công suất 730 mã lực. Khác với các loại xe tăng trước đó, trên Type 88 có 2 ống xả dẫn ra sườn xe bên phải, chứ không phải bên trái. Các thùng dầu bên ngoài được dịch chuyển từ tấm che xích bên phải sang bên trái. Trên tấm che xích bên phải bố trí các hòm phụ tùng.

Bộ phận vận hành gồm 6 bánh lăn kép mỗi bên, có đường kính nhỏ hơn so với Type 59 và Type 69. Các bánh lăn là loại dùng cho khung gầm xích vạn năng Type 321. Xích xe có các gối cao su chạy đường nhựa.

Xe tăng được trang bị hệ thống phòng hộ hạt nhân tập thể kiểu tạo khí dư trong khoang xe, hệ thống chống cháy tự động và hệ thống khói nhiệt.

Với trọng lượng 38,5 tấn, xe tăng có tốc độ tối đa 60 km/h. Dự trữ hành trình 430 km.

Trong quá trình sản xuất, Type 88 liên tục được hiện đại hóa. Nhanh chóng xuất hiện mẫu Type 88A (ZTZ88A) với pháo 105 mm có nòng được kéo dài thêm 1 m. Pháo này có tên 83-I. Tuy nhiên, Trung Quốc chỉ sản xuất 1 mẫu xe này. Tình hình với mẫu Type 88В (ZTZ88В) thì khác. Biến thể này có hệ thống điều khiển hỏa lực cải tiến và pháo hiện đại hóa. Hệ thống điều khiển hỏa lực cải tiến ISFCS-212, ngoài máy ngắm kết hợp của trưởng xe và thiết bị ổn định vũ khí, còn gồm máy ngắm ngày/đêm tích hợp mới dành cho pháo thủ với trường nhìn ổn định và thiết bị đo xa laser lắp liền, máy tính đường đạn số cải tiến với các sensor độ nghiêng của bệ đỡ và trục pháo, sensor gió và bảng điều khiển. Tất cả dữ liệu được tự động đưa vào máy tính để máy tính xử lý, tính toán các hiệu chỉnh cần thiết và hiển thị chúng trong trường nhìn của máy ngắm. Pháo 83 nòng rãnh, cỡ 105 mm có phần khóa nòng được sửa đổi để bắn được các loại đạn mới do NORINCO phát triển (các loại đạn phá-mảnh, xuyên lõm, dưới cỡ uy lực mạnh). Có lẽ tất cả các xe tăng Type 88 đã được nâng cấp lên 88В khi tiến hành sửa chữa định kỳ.

Type 88 được sản xuất tại Nhà máy số 617 ở Bao Đầu đến năm 1995. Trong 7 năm, đã sản xuất gần 500 xe. Type 88 chỉ được trang bị cho quân đội Trung Quốc. Xe tăng này lần đầu tiên được giới thiệu với công chúng tại cuộc duyệt binh ở Bắc Kinh vào năm 1989.

Biến thể xuất khẩu

Vào đầu thập niên 1990, NORINCO đã phát triển xe tăng chủ lực Type 85-IIM để xuất khẩu sang Pakistan. Vào năm 1992, kết thúc thử nghiệm và bắt đầu sản xuất loạt xe tăng này. Theo thỏa thuận Trung Quốc-Pakistan, ban đầu Trung Quốc đã cung cấp các xe tăng thành phẩm, sau đó cung cấp các bộ phận chủ yếu và tổng thành để lắp ráp tại nhà máy của công ty Heavy Industries Taxila Pakistan, còn sau khi Pakistan làm chủ hoàn toàn được công nghệ sản xuất thân và tháp xe thì Type 85-IIM đã được sản xuất hoàn toàn ở Pakistan. Các xe tăng này được đặt tên là Type 85-IIAP. Ngoài ra, tại Trung Quốc cũng còn mấy mẫu thử nghiệm để tiếp tục thử nghiệm. Tổng cộng đã sản xuất gần 300 xe này. Hiện tại, việc sản xuất tăng này đã chấm dứt. Trong trang bị quân đội Pakistan có gần 260 xe tăng Type 85-IIAP.

Xe tăng có cấu tạo truyền thống với khoang lái ở đầu xe, khoang chiến đấu ở giữa và khoang động cơ-truyền lực ở đuôi. Thân và tháp có vỏ giáp nhiều lớp phức hợp ở hình chiếu phía trước, khi cần có thể bổ sung thêm giáp treo phản ứng nổ.

Tháp xe được hàn từ các miếng giáp cán và đúc, và có cấu trúc module ở phần trước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thay thế các miếng giáp. Các module giáp phía trước với các móc chuyên dụng để thay thế nhanh, còn ở phần trên mỗi khối giáp có một hốc để nhồi vật liệu chèn bằng gồm. Trong phần đuôi tháp bố trí khối điện tử của máy tính đường đạn, cơ số đạn súng máy và một phần thiết bị lội ngầm. Trên nóc tháp bố trí anten vô tuyến điện và sensor gió. Cấu trúc bên trong khoang chiến đấu hoàn toàn giống với xe tăng Т-72 của Liên Xô. Trong tháp chỉ ngồi 2 người của kíp xe là pháo thủ (ngồi bên trái pháo) và trưởng xe (bên phải pháo). 

Vũ khí chính là pháo nòng trơn 125 mm  do NORINCO sao chép từ pháo Nga 2А46 và sản xuất. Pháo có bộ hút khói và vỏ cách nhiệt tháo lắp. Góc tầm của pháo là từ -6 đến +14 độ, độ dài nòng là 51 lần cỡ, tầm bắn thẳng của đạn xuyên giáp dưới cỡ là 2.500 m. Bộ ổn định pháo cũng là sao chép bộ ổn định 2E28 Syren của Nga, nó được điều khiển nhờ bàn điều khiển chuyên dụng và cho phép bắn khá chính xác trong hành tiến vào các mục tiêu tĩnh và động. 

Các bộ dẫn động pháo điện-thủy lực được làm song trùng cho trưởng xe và pháo thủ. Ngoài việc làm chủ công nghệ sản xuất pháo, công nghiệp Trung Quốc cũng làm chủ được công nghệ sản xuất các loại đạn pháo 125 mm đi cùng, gồm: các loại đạn xuyên lõm, xuyên giáp dưới cỡ và phá-mảnh. Các phát bắn có vỏ lắp rời và vỏ cháy một phần (đáy đạn không cháy).

Trong kíp xe không có pháo thủ nạp đạn vì chức năng đó đã do máy nạp đạn tự động đảm nhiệm, nhờ đó tốc độ bắn liên tục đã tăng lên (6-8 phát/phút), không phụ thuộc vào độ mệt mỏi của pháo thủ nạp đạn, còn hệ thống đón và hất đáy vỏ đạn đã giảm được đáng kể mức độ khói trong khoang chiến đấu. Khi máy nạp đạn tự động bị hỏng hay hết cơ số đạn trong máy nạp đạn (22 phát bắn), kíp xe có thể nạp đạn bằng tay cho pháo, nhưng thao tác này rất bất tiện và tốc độ bắn lúc đó sẽ là không quá 1-2 phát/phút và điều đó cũng thuần túy là mang tính lý thuyết.

Vũ khí bổ trợ gồm súng máy đồng trục 7,62 mm và súng máy phòng không 12,7 mm Type 54 lắp trên móc trước cửa nắp của trưởng xe, nên chỉ có thể bắn về phía trước. Trên các xe tăng sản xuất sau này có lắp súng máy phòng không mới 12,7 mm W-85 của Trung Quốc. Tất cả các súng máy đều được sản xuất tại Pakistan theo giấy phép của Trung Quốc.

Hệ thống điều khiển hỏa lực chế tạo dựa trên hệ thống điều khiển hỏa lực ISFCS-212, có sử dụng các сông nghệ của phương Tây, cho phép điều khiển bắn pháo hiệu quả. Hệ thống bao gồm máy ngắm kết hợp của pháo thủ với thiết bị đo xa laser lắp liền (có thể đo xa trong phạm vi 500-5.000 m) và ổn định trường nhìn độc lập, máy ngắm kết hợp được ổn định của trưởng xe, bộ ổn định pháo 2 mặt phẳng, máy tính đường đạn số và các loại sensor. Thông tin từ sensor gió, các tham số khí quyển, nhiệt độ liều phòng, tốc độ góc của mục tiêu và cự ly đến mục tiêu được tự động đưa vào máy tính. 

Trên các xe tăng sản xuất loạt 2 cung cấp cho Pakistan ở dạng tháo rời và lắp ráp tại chỗ thì sensor khí quyển có hình dáng mới kiểu ống cao. Bên phải máy ngắm chính của pháo thủ bố trí thêm khí tài quan sát có đầu quay.

Để tạo màn khói, xe sử dụng 2 cụm ống phóng lựu khói mỗi cụm 6 ống phòng, lắp hai bên tháp xe, cũng như hệ thống tạo khói nhiệt. Xe được trang bị hệ thống phòng hộ NBC tập thể với thiết bị quạt lọc, thiết bị dập lửa tác động nhanh và máy vô tuyến điện hiện đại Type 889В.

Động cơ là biến thể cải tiến của động cơ diesel VR36 (12150L7-BW) công suất 730 mã lực (công suất riêng là 17,8 mã lực/tấn). Nóc khoang động cơ-truyền lực được nâng lên một chút do các bộ phận của hệ thống làm mát và tản nhiệt được bố trí khác đi. Trên xe tăng lắp bộ truyền lực bán tự động do phương Tây sản xuất được ghép thành một khối với động cơ. Việc thay thế khối động cơ trong điều kiện dã chiến mất 40 phút. Tổng dung tích nhiên liệu dự trữ trong các thùng dầu bên trong và bên ngoài tăng lên đến 1.400 lít, dự trữ hành trình trên đường nhựa được thông báo là 700 km, nhưng đây là điều khó tin. Hai ống xả được dẫn ra sườn xe bên phải. Trên các xe tăng sản xuất các đời cuối, các ống xả được bẻ ra phía sau và chúi xuống dưới.

Type 96


Trên cơ sở xe tăng xuất khẩu Type 85-IIM, người ta đã phát triển tăng chủ lực Type 96 (ZTZ96) cho quân đội Trung Quốc. Ban đầu, biến thể này có tên Type 88C hay ZTZ88C. Do khó khăn tài chính, việc sản xuất loạt Type 88C cho quân đội Trung Quốc chỉ bắt đầu vào năm 1997, còn tên của nó bị đổi thành Type 96.

Về kết cấu và hình dáng, Type 96 gần như giống hệt Type 85-IIM series cuối được trang bị cho quân đội Pakistan và hầu như có cùng các tính năng chiến-kỹ thuật. Những khác biệt chính là động cơ mạnh hơn, hệ thống điều khiển hỏa lực cải tiến và trọng lượng chiến đấu nặng hơn 1,5 tấn.

Giống như Type 85-IIM, Type 96 cũng có giáp phức hợp, nhiều lớp ở hình chiếu phía trước và được trang bị pháo nòng trơn 125 mm với máy nạp đạn tự động. 

Vũ khí bổ trợ gồm súng máy phòng không 12,7 mm W-85 và súng máy đồng trục 7,62 mm Type 86, cũng như 6 cụm ống phòng lựu khói gắn hai bên sườn tháp. Hệ thống điều khiển hỏa lực gồm bộ ổn định pháo 2 mặt phẳng, các máy ngắm kết hợp của trưởng xe và pháo thủ, máy tính đường đạn, bảng điều khiển, các sensor và thiết bị đo xa laser. Có sự khác biệt nhỏ là không có khí tài quan sát bổ sung cho pháo thủ.

Xe tăng được trang bị tất cả các hệ thống và thiết bị hiện đại như các khí tài nhìn đêm, máy vô tuyến điện sóng cực ngắn 889B (cự ly liên lạc 20-25 km), hệ thống phòng hộ tập thể chống vũ khí NBC, thiết bị dập cháy tác động nhanh.

Trên xe tăng lắp động cơ diesel tăng lực, làm mát bằng chất lỏng, công suất 1.000 mã lực, cho phép tăng được tốc độ tối đa. Động cơ này được cải tiến từ động cơ diesel dành cho xe tăng 12150L7-BW của Trung Quốc và như vậy là kéo dài thêm dòng động cơ V-54 của Liên Xô. Cùng với bộ truyền lực, nó tạo thành khối động lực duy nhất, cho phép thay thế nó nhanh trong điều kiện dã chiến. Bộ truyền lực kiểu cơ khí hành tình, tương tự bộ truyền lực của tăng Type 88. Bộ phận vận hành và cấu tạo của khoang động cơ-truyền lực tương tự như ở xe tăng Type 88-IIM.

Trên mẫu xe Type 96G có lắp các khối giáp tăng cường, gắn trên các khối giáp ở mặt trước tháp xe, tầm giáp đầu xe và ngoài mặt giỏ tháp.

Type 96 được sản xuất tại Nhà máy số 617. Theo giới lãnh đạo quân đội Trung Quốc, Type 96 cùng với xe tăng mới nhất Type 99 sẽ là nền tảng của các đơn vị xe tăng Trung Quốc trong 25 năm đầu thế kỷ XXI. 

Type 96 được giới thiệu lần đầu tiên với công chúng tại cuộc duyệt binh ở Bắc Kinh vào ngày 1/10/1999. 

Ban đầu, Type 96 được trang bị cho các binh đoàn tăng tinh nhuệ như Sư đoàn tăng số 6 của quân đoàn 38, đại quân khu Bắc Kinh và sư đoàn tăng số 8 của quân đoàn 26, đại quân khu Tế Nam. Từ năm 2005, khi đã sản xuất được hơn 1.500 chiếc Type 96, chúng đã bắt đầu thay thế các xe tăng cũ kỹ sản xuất trong thập niên 1960-1970 trong các binh đoàn tăng còn lại.

Type 98

Xe tăng chủ lực thế hệ 3 Type 98 do Viện nghiên cứu chế tạo máy Hoa Bắc (NEVORI, trước đây là Viện 201) ở Bắc Kinh phát triển với sự hợp tác của Công ty chế tạo máy số 1 (FIRMACO, trước đây là Nhà máy số 617) ở thành phố Baotou. Type 98 được bắt đầu thiết kế từ thập niên 1970. Các giải pháp thiết kế riêng lẻ của xe tăng mới được thử nghiệm trên các mẫu thử nghiệm WZ1224 và WZ1226 trong thập niên 1980, cũng như trên xe tăng xuất khẩu Type 90-II/MBT-2000. Vào giữa thập niên 1980, diện mạo của xe tăng hình thành hoàn chỉnh - nền tảng của nó là thiết kế xe tăng Liên Xô Т-72М (Trung Quốc đã mua được mấy xe tăng này ở Cận Đông) nên sao chép cấu tạo và một số giải pháp thiết kế của xe tăng Liên Xô. Trung Quốc sản xuất 4 mẫu chế thử đầu tiên vào năm 1992 và bắt đầu sản xuất loạt vào năm 1998.
 

Type 98 có cấu tạo truyền thống với khoang động lực bố trí ở đuôi xe. Khoang lái với vị trí lái xe ở giữa. Trong khoang chiến đấu, pháo thủ ngồi bên trái pháo, trưởng xe ngồi bên phải.

Thân xe kiểu hàn, làm bằng giáp đồng nhất với vỏ giáp phức hợp ở phần đầu xe. Các bộ phận giáp mặt trước của tháp xe kiểu hàn, làm bằng các tấm giáp có độ dày khác nhau đặt với góc nghiêng hợp lý cũng cấu thành vỏ giáp phức hợp chung.

Vũ khí chính là pháo nòng trơn 125 mm ZPT-98. Đây là pháo làm nhái trái phép pháo tăng Liên Xô 2А46, được thiết kế lại cho phù hợp với công nghệ Trung Quốc. Nòng pháo có vỏ cách nhiệt. Máy nạp đạn tự động điện-cơ chứa 22 phát bắn cũng sao chép từ mẫu Liên Xô và trước đó đã được sử dụng trên tăng Type 85-IIM, Type 96 và Type 90-II. Khi sử dụng máy nạp đạn tự động, tốc độ bắn đạt 8 phát/phút. Tổng cơ số đạn là 41 phát bắn cát-tút nạp rời với đạn xuyên giáp dưới cỡ thoát vỏ, đạn xuyên lõm và đạn phá-mảnh, cũng như tên lửa chống tăng có điều khiển dẫn bằng laser 9М119 Refleks do Nga sản xuất. Ngoài ra, Trung Quốc còn hợp tác với Israel chế tạo đạn xuyên giáp dưới cỡ có lõi bằng uranium nghèo.

Type 98 được trang bị hệ thống điều khiển hỏa lực hiện đại của Pháp, tương tự như hệ thống trên xe tăng Leclerc. Các thành phần chính của hệ thống này là máy tính đường đạn kỹ thuật số, bảng điều khiển, máy ngắm tiềm vọng của pháo thủ với camera ảnh nhiệt, máy đo xa laser lắp liền và tuyến ngắm ổn định độc lập hai mặt phẳng, máy ngắm tiềm vọng kết hợp khí tài quan sát của trưởng xe với đầu quan sát toàn cảnh, màn hình của trưởng xe, thiết bị ổn định vũ khí hai mặt phẳng (sao chép thiết bị 2E28 Siren của Liên Xô) và một tập hợp các sensor khác nhau. Việc điều khiển vũ khí thiết kế kiểu song trùng, do cả pháo thủ và trưởng xe thực hiện.

Vũ khí bổ trợ trên xe tăng này là 2 súng máy - 1 súng máy đồng trục 7,62 mm Type 86 ở bên phải pháo và 1 súng máy phòng không 12,7 mm W-85 lắp trước cửa nắp của trưởng xe và có tên là ụ súng máy phòng không QJC-88. Súng máy đồng trục được điều khiển tác xạ với tầm đến 1.000 m bằng cò điện. Ụ súng máy phòng không chỉ bắn được sector phía trước ở cự ly đến 1.600 m đối với mục tiêu mặt đất và đến 1.500 m đối với mục tiêu bay. Góc tầm của súng máy phòng không là -40 đến +750. Hai bên sườn tháp có lắp 2 cụm x 5 ống phóng lựu khói Type 84.

Điểm nổi bật của Type 98 là có hệ thống laser phòng vệ chủ động JD-3. Hệ thống bao gồm hệ thống cảnh báo chiếu xạ laser LRW (sensor hình nấm ở sau cửa nắp trưởng xe) và thiết bị phát laser LSDW (tháp nhỏ hình hộp phía sau cửa nắp của pháo thủ). Khi nhận được tín hiệu báo động xe tăng bị tia laser của đối phương chiếu xạ, hệ thống cảnh báo phát tín hiệu quay tháp về phía nguồn phát laser phát hiện được, sau đó tia laser công suất thấp được bật lên và phát đi để định vị chính xác vị trí mục tiêu, sau đó công suất của tia laser tức thời tăng lên đến mức tới hạn và loại khỏi vòng chiến khí tài quang hay cơ quan thị giác của đối phương.

Theo Vietnam Defence