Nhiệm kỳ qua thành phố Cần Thơ đã thực hiện đạt và vượt 20/22 chỉ tiêu Nghị quyết ĐH đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ XII đề ra.

Đồng chí Lê Hồng Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng:

Những thành tựu quan trọng về kinh tế - xã hội, về quốc phòng – an ninh, về công tác xây dựng Đảng… của Đảng bộ thành phố CầnThơ trong nhiệm kỳ qua đã thể hiện bản lĩnh chính trị, ý thức trách nhiệm, tinh thần đoàn kết, nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn, thách thức để hoàn thành hầu hết các chỉ tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết ĐH đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ XII đã xác định, xứng đáng là thành phố trung tâm của vùng ĐBSCL và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước.

Trong nhiệm kỳ 2010-2015, tăng trưởng kinh tế (GDP - giá so sánh 2010) của Tp Cần Thơ bình quân giai đoạn 2010 - 2015 đạt 12,19%. Cơ cấu các ngành, lĩnh vực kinh tế tăng dần tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ và giảm dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp, thủy sản. Sản xuất công nghiệp tập trung vào các sản phẩm có giá trị gia tăng, từng bước đáp ứng yêu cầu thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Lĩnh vực thương mại phát triển nhanh, đa dạng. Dịch vụ phát triển năng động, tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng theo hướng đa dạng hóa loại hình, hướng tới những ngành dịch vụ có giá trị lớn. Sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng công nghiệp hóa, chất lượng cao. Việc huy động các nguồn lực đầu tư phát triển đạt kết quả khá tốt. Tổng số vốn đầu tư trong 5 năm ước thực hiện trên 200.000 tỉ đồng, tăng 2,3 lần so với giai đoạn 2006-2010.

Cần Thơ là Thành phố trẻ, năng động

Nhiệm kỳ qua, thành phố Cần Thơ tập trung đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng có trọng tâm, trọng điểm. Một số công trình giao thông quan trọng được ưu tiên đầu tư, nâng cấp và hoàn thành đưa vào sử dụng; nhiều khu đô thị, tái định cư mới được đầu tư xây dựng, cùng với việc cải tạo nâng cấp, chỉnh trang, tạo cảnh quan, trật tự đô thị theo hướng văn minh, hiện đại. Kết cấu hạ tầng nông thôn ngày càng phát triển. Việc chỉ đạo thực hiện xây dựng nông thôn mới đạt kết quả tốt, đời sống người dân nông thôn được cải thiện đáng kể. Các chính sách an sinh xã hội được giải quyết kịp thời; công tác giải quyết việc làm và đào tạo nghề được quan tâm thực hiện tốt, cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng lao động khu vực nông nghiệp, đạt chỉ tiêu nghị quyết đề ra, từ đó góp phần hạ tỷ lệ hộ nghèo của thành phố đến nay xuống còn 1,84%. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

* 20 chỉ tiêu đạt và vượt so với Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ XII đề ra:

1- GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành ước đạt 78,46 triệu đồng, tương đương 3.626 USD (chỉ tiêu Nghị quyết nhiệm kỳ đề ra 71 triệu đồng).

2- Cơ cấu các ngành, lĩnh vực kinh tế tăng dần tỷ trọng khu vực công nghiệp – xây dựng, thương mại dịch vụ và giảm dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp, thủy sản. Đến năm 2015, tỷ trọng khu vực I chiếm 6,75%, khu vực II chiếm 35,45%, khu vực III chiếm 57,8% trong cơ cấu GDP .

3- Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn được 200.635 tỉ đồng, đạt 100,3%.

4- Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ thu ngoại tệ được 7.016 triệu USD, cơ bản đạt yêu cầu chỉ tiêu Nghị quyết đề ra.

5- Thu – chi ngân sách nhà nước: Tổng thu ngân sách trên địa bàn được 58.256 tỉ đồng, vượt 23,9%; tổng chi ngân sách địa phương được 43.780 tỉ đồng, vượt 20,3%.

6- Mức giảm sinh bình quân đạt 0,2/%o (chỉ tiêu Nghị quyết nhiệm kỳ đề ra 0,2-0,3%).

7- Giải quyết việc làm cho 254.735 người lao động, đạt 101,9%.

8- Giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân/năm 1,2% (chỉ tiêu Nghị quyết nhiệm kỳ đề ra 1%).

9-Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 65% (chỉ tiêu Nghị quyết nhiệm kỳ đề ra 65%), tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 50,76% (chỉ tiêu Nghị quyết nhiệm kỳ đề ra 50%); tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đi học mẫu giáo đạt 90% (chỉ tiêu Nghị quyết nhiệm kỳ đề ra 90%); tỷ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi: tiểu học đạt 100% (chỉ tiêu Nghị quyết nhiệm kỳ đề ra 100%), trung học cơ sở đạt 89% (chỉ tiêu Nghị quyết nhiệm kỳ đề ra 88%), trung học phổ thông đạt 65% (chỉ tiêu Nghị quyết nhiệm kỳ đề ra 65%).

10- Tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng 10,5% (chỉ tiêu Nghị quyết nhiệm kỳ đề ra 12,8%).

11- Số xã, phường có đường ô tô đến trung tâm 85 xã, phường (đạt 100% chỉ tiêu Nghị quyết đề ra).

12- Số xã, phường, thị trấn đạt chuẩn văn hóa (lũy kế) được 57 xã, phường, thị trấn (chỉ tiêu Nghị quyết nhiệm kỳ đề ra 55 xã, phường, thị trấn).

13- Số máy điện thoại/ 100 dân đạt 122,1 thuê bao; thuê bao internet/100 dân đạt 20,4 thuê bao.

14- Tỷ lệ hộ sử dụng điện đạt 99,87% (chỉ tiêu Nghị quyết nhiệm kỳ đề ra 99,8%), tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch đạt 87,52%, tỷ lệ hộ dân sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 99% (chỉ tiêu nghị quyết nhiệm kỳ đề ra 99%).

15- Tỷ lệ chất thải rắn được thu gom và xử lý đạt 90% (chỉ tiêu Nghị quyết nhiệm kỳ đề ra 90%), tỷ lệ chất thải y tế được xử lý đạt 100% (chỉ tiêu Nghị quyết nhiệm kỳ đề ra 100%), tỷ lệ khu công nghiệp khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường đạt 100% (chỉ tiêu Nghị quyết nhiệm kỳ đề ra 100%).

16- Giải quyết nhà ở cho hộ nghèo gặp khó khăn về nhà ở; cho học sinh, sinh viên; cho công nhân; cho người có thu nhập thấp: Xây mới, sửa chữa trên 2.000 căn nhà tình nghĩa cho người có công với nước và xây dựng 8.000 căn nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo…

17- Xây dựng xã đạt tiêu chí nông thôn mới (lũy kế) được 12 xã (chỉ tiêu Nghị quyết nhiệm kỳ đề ra là 10 xã).

18- Tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh hàng năm đạt chỉ tiêu.

19- Trong nhiệm kỳ phát triển 13.251 đảng viên mới (chỉ tiêu Nghị quyết nhiệm kỳ đề ra là kết nạp 10.000 đảng viên).

20- Tỷ lệ quần chúng tham gia các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội đạt 69,04%.

* 2 chỉ tiêu chưa đạt so với Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ XII đề ra:

1- Tăng trưởng kinh tế (GDP giá so sánh 2010) đạt 12,19% (chỉ tiêu Nghị quyết nhiệm kỳ đề ra 16% trở lên).

2- Giá trị sản xuất (GO) giá so sánh 2010: Giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp tăng 3,7% (chỉ tiêu Nghị quyết nhiệm kỳ đề ra 4,5-5%); giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng tăng bình quân 10,1% (chỉ tiêu Nghị quyết nhiệm kỳ đề ra 19-19,5%). Riêng giá trị sản xuất các ngành dịch vụ vượt chỉ tiêu Nghị quyết nhiệm kỳ đề ra.

ND