Trên đây là số liệu trong báo cáo của Trung tâm điều hành chương trình chống ngập (Trung tâm chống ngập) mới gửi UBND TP.HCM. Cũng trong báo cáo này Trung tâm chống ngập đã nêu ra nhiều lý do khiến tình hình ngập tại TP.HCM trong những năm qua diễn biến ngày càng phức tạp.
Người đi đường ngã nhào vì triều cường tại đường Huỳnh Tấn Phát (Quận 7)

Cụ thể, về điều kiện tự nhiên, TP có địa hình tương đối thấp. Tổng diện tích TP khoảng 1 triệu km vuông thì có tới 41,8% diện tích có cao độ dưới 1m, 21,7% diện tích có cao độ từ 1 đến 1,5m và chỉ 37,4% diện tích có cao độ hơn 1,5m.

Thêm vào đó, tình hình biến đổi khí hậu­ cũng là một nguyên nhân làm trầm trọng thêm tình trạng ngập. Theo thống kê, trong giai đoạn 1962 – 2001 tại TP chỉ xuất hiện 9 trận mưa trong 3 tiếng, đạt vũ lượng trên 100mm. Tuy nhiên chỉ trong hơn 10 năm trở lại đây đã xuất hiện 29 trận mưa, đặc biệt trong năm 2016 có 1 trận mưa chỉ trong vòng 90’ đã đạt vũ lượng 202mm.

Về triều cường, trong 27 năm từ 1980 – 2007 đỉnh triền cao nhất chỉ đạt dưới 150cm, nhưng từ 2008 đến nay đỉnh triều đã vượt trên mức này. Số liệu cho thấy trong 4 năm từ 2011 đến 2014 có tới 76 lần đỉnh triều vượt mức 150cm, thậm chí có lần đã lên tới 168cm.

Một nguyên nhân khác là do dân số tăng nhanh. Quy hoạch đô thị của Sài Gòn trước năm 1975 được lập cho quy mô dân số khoảng 2 triệu người, do đó hệ thống hạ tầng cũng thiết kế tương ứng, tuy nhiên dân số hiện nay đã tăng lên hơn 10 triệu người.

Dù dân số tăng như vậy nhưng hiện hệ thống kênh rạch với 3.020 tuyến, tổng chiều dài 5.075km – là nơi thoát nước của TP nhưng do ngân sách khó khăn nên hầu hết chưa được nạo vét gây bồi lắng.

Trong khi đó hệ thống cống thoát nước hầu hết xây dựng từ thời Pháp nên vốn có tiết diện nhỏ (từ 600 – 800mm) lại bị hư hỏng, xuống cấp nhưng chưa có điều kiện thay thế, trong khi ý thức người dân hạn chế và quản lý lỏng lẻo nên nhiều nơi bị lấn chiếm làm thu hẹp dòng chảy.

Ngoài ra công tác quản lý còn hạn chế khiến một số tuyến đường chính được nâng cao theo đúng quy hoạch nhưng đa số nhà dân không có điều kiện nâng cốt nền cho đồng bộ dẫn đến hiện tượng nước chảy tràn mỗi khi mưa lớn.

Một số dự án xây dựng xảy ra tình trạng san lấp rạch nhưng không xây hồ điều tiết để bù lại diện tích san lấp dẫn đến các khu vực trữ nước tự nhiên bị thu hẹp, và tình trạng bê tông hóa cũng làm khả năng thẩm thấu nước tự nhiên bị hạn chế.

Việc dự báo chưa lường hết được hậu quả của biến đổi khí hậu khiến việc lập quy hoạch đựa trên những thông số không còn phù hợp. Đó là lý do một số tuyến cống thoát nước bị quá tải dù mới được đầu tư.

Kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè sau khi cải tạo

Báo cáo cho thấy trong 10 năm qua TP đã bỏ ra gần 25.000 tỷ đồng để thực hiện các dự án thoát nước nhưng cũng chỉ đủ “thực hiện được một khối lượng công việc rất hạn chế”. Đặc biệt trong 10 năm TP đã bỏ ra số tiền khoảng 18.700 tỷ (tương đương 870 triệu USD) dành thực hiện các dự án cải tạo, nạo vét kênh rạch nhưng mới chỉ được 1,2% khối lượng theo quy hoạch.

Theo Trung tâm chống ngập, để giải quyết vấn đề thoát nước TP đã xây dựng các quy hoạch tổng thể và được Thủ tướng phê duyệt. Tuy nhiên việc triển khai những dự án này còn chậm do phải có nguồn lực lên đến hàng trăm ngàn tỷ đồng và đòi hỏi phải huy động mọi nguồn lực của TP.

Để khắc phục tình trạng này, TP đã lập kế hoạch giải quyết ngập giai đoạn 2016 – 2020 với 2 giai đoạn.

Theo kế hoạch này, giai đoạn 2016 – 2018 sẽ cải tạo, nâng cấp hệ thống thoát nước cho 8/17 tuyến đường, xóa ngập cho 60/179 tuyến hẻm, hoàn thành hạng mục kiểm soát triển cho lưu vực 550km vuông, đẩy nhanh tiến độ hoàn thành 3 nhà máy xử lý nước thải. Giai đoạn 2019 – 2020 sẽ xóa ngập cho 119 tuyến hẻm còn lại, xây dựng 4 nhà máy xử lý nước thải và giải quyết 17/17 tuyến đường bị ngập do mưa.

Nguyễn Cường