Trị viêm chân tóc, tránh rụng tóc

Viêm chân tóc là một trong những nguyên nhân dẫn đến rụng tóc. Không chỉ những người lao động vất vả, đầu tóc luôn đẫm mồ hôi, bụi bặm mà ít được tắm gội hay ở người vì gội quá nhiều...

Viêm chân tóc là một trong những nguyên nhân dẫn đến rụng tóc. Không chỉ những người lao động vất vả, đầu tóc luôn đẫm mồ hôi, bụi bặm mà ít được tắm gội hay ở người vì gội quá nhiều, dùng dầu gội có độ tẩy gầu cao, lại hay cào vò làm xây xước da đầu đều dẫn đến viêm chân tóc... Nếu được phát hiện và điều trị sớm, đúng phương pháp, bệnh viêm chân tóc có thể chữa khỏi.

Viêm chân tóc

Viêm chân tóc là tình trạng viêm phần nang tóc, hay gặp ở những người da đầu nhiều dầu. Nguyên nhân chủ yếu do tụ cầu vàng có tên khoa học Staphylococcus aureus hoặc vi khuẩn gram âm... gây nên.

Những người có nguy cơ cao bị bệnh này là những người dùng thuốc ức chế miễn dịch (corticoid), kháng sinh trong thời gian dài hoặc mắc các bệnh như đái tháo đường, suy giảm miễn dịch...

Biểu hiện viêm chân tóc là các sẩn nhỏ như hạt kê ở chân tóc, có vẩy, rất ngứa, mọc nhiều nhất ở vùng gáy, hai bên tóc mai. Nếu bệnh nặng, sẩn có thể lan cả đến vùng râu, lông nách, lông mi, tiến triển dai dẳng nhiều tháng nhiều năm. Nếu gãi nhiều, có thể bị nhiễm khuẩn thứ phát, gây chốc lở, nổi hạch đau hai bên cổ.

Các yếu tố thuận lợi gây viêm chân tóc gồm có: khí hậu nóng, độ ẩm cao, môi trường bị ô nhiễm, bụi bẩn, bịt kín da đầu, da đầu luôn đẫm mồ hôi. Các trường hợp gội đầu quá nhiều (một lần/ngày hoặc vài lần/ngày), dùng nhiều dầu gội có độ tẩy gầu cao làm mất hết lớp ceramide bảo vệ da đầu.

Khi gội đầu, bệnh nhân lại gãi mạnh tạo nên các vết trầy xước trên da, tạo điều kiện cho vi khuẩn và vi nấm xâm nhập gây bệnh. Khi đó, bệnh nhân rất ngứa đầu và khi gội đầu lại muốn gãi mạnh cho đỡ ngứa thì tổn thương da sẽ xuất hiện nhiều hơn.Viêm chân tóc dễ dẫn đến rụng tóc, tổn thương da đầu.

Ðiều trị viêm chân tóc thế nào?

Việc điều trị viêm chân tóc là sự kết hợp giữa dùng thuốc và chăm sóc da đầu đúng cách. Về dùng thuốc phải kết hợp dùng thuốc kháng sinh, thuốc kháng khuẩn tại chỗ, thuốc chống ngứa và thuốc chống dị ứng. Tùy từng trường hợp, thầy thuốc sẽ có chỉ định thích hợp.

Nếu tổn thương da tiết dịch nhiều thì bôi các dung dịch sát khuẩn như castelani, BSI. Tổn thương khô hơn thì bôi hàng ngày trong 2-3 tuần, một trong các thuốc có chứa corticoid có hoạt phổ mạnh như: temproson, gentrison, caditrigel...

Để giảm ngứa, có thể uống một trong các thuốc kháng histamin như loratadin, fexofenadin, chlopheniramin một đợt từ 5-10 ngày. Uống kháng sinh như: cefixim, roxithromycin có tác dụng diệt khuẩn một đợt dùng từ 7-10 ngày. Cần phối hợp cả dùng thuốc và chăm sóc da đầu đúng cách để tăng hiệu quả điều trị.

Không sử dụng các dầu gội thông thường, phải dùng dầu gội đầu (loại trị gầu), chỉ nên gội đầu 2-3 lần/tuần. Khi gội chỉ gãi nhẹ nhàng tránh làm xây xước da đầu, không làm tróc vẩy các mụn. Không gãi, không cạo trước khi bôi thuốc. Không xát chanh, xát muối, xà phòng vào chỗ da đầu bị viêm.

Viêm chân tóc dễ gây rụng tóc. Khi đã xác định bị rụng tóc do viêm chân tóc, người bệnh không nên sốt ruột, mà cần kiên trì điều trị tình trạng viêm chân tóc trước đã. Khi tình trạng viêm được cải thiện hay chữa trị dứt điểm, da đầu sẽ bớt dầu, bớt ngứa, tình trạng rụng tóc sẽ giảm rõ rệt.

Các loại thuốc hạn chế rụng tóc gồm: vitamin B5, B6, các axit amin như cystine, methionine, biotine, chất sắt và kẽm... Ngoài ra, có thể dùng các chất cortisone tại chỗ, điều trị chống dị ứng tại da đầu (nhằm giảm hiện tượng rụng tóc do bệnh tự miễn), kích thích da đầu bằng nhiệt độ lạnh.

Trường hợp tóc rụng quá nhiều, nguyên nhân rụng tóc do viêm chân tóc và cả các yếu tố nội tiết thì có thể dùng tại chỗ loại thuốc chữa rụng tóc như minoxidil từ 4-6 tháng. Ngoài ra, với phụ nữ có thể dùng kèm thuốc kháng kích thích tố nam (kháng androgen), thuốc kích thích miễn dịch tại chỗ (isoprinosine), dùng trong trường hợp rụng tóc nhiều thành từng mảng, da đầu rất nhờn. Tuy nhiên việc dùng thuốc phải theo đúng chỉ định của thầy thuốc.

Nguồn SKĐS

cùng chuyên mục
Kéo xuống để xem tiếp nội dung
Xem thêm trên infonet