Theo Ủy ban thường vụ Quốc hội, việc mở rộng Cảng hàng không quốc tế (HKQT) Tân Sơn Nhất theo ý kiến đề xuất của các ĐBQH tại phiên thảo luận ở kỳ họp thứ 8 là thiếu khả thi.

Khó khả thi mở rộng sân bay Tân Sơn Nhất

Thảo luận tại kỳ họp thứ 8, nhiều ý kiến ĐBQH đưa ra đề nghị nghiên cứu phương án mở rộng, nâng cấp sân bay quân sự Biên Hòa và Cảng HKQT Tân Sơn Nhất để kết hợp cùng khai thác. Cũng có ý kiến đề nghị chuyển hoạt động quân sự tại Cảng HKQT Tân Sơn Nhất sang sân bay quân sự Biên Hòa để dành toàn bộ quỹ đất tại Cảng HKQT Tân Sơn Nhất cho mục đích khai thác hàng không dân dụng.

Tuy nhiên, trình bày báo cáo giải trình, tiếp thu của Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) về dự án xây dựng Cảng HKQT Long Thành sáng 4/6, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Nguyễn Văn Giàu đưa ra 5 lý do để thuyết phục Quốc hội, rằng “việc mở rộng, nâng cấp Cảng HKQT Tân Sơn Nhất để nâng công suất khai thác lên 50 triệu khách/năm khó khả thi”.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Nguyễn Văn Giàu

Trước tiên, việc mở rộng, nâng cấp Cảng HKQT Tân Sơn Nhất đầu tư kinh phí rất lớn cho việc thu hồi đất, đền bù, tái định cư, quá tốn kém so với phương án đầu tư xây dựng mới Cảng HKQT Long Thành, với tổng chi phí dự kiến ước tính khoảng Tổng chi phí theo phương án này ước tính khoảng 191.000 tỷ đồng (tương đương 9,1 tỷ USD), bao gồm cả chi phí đền bù, tái định cư khoảng 140.000 hộ dân với khoảng 500.000 nhân khẩu (chưa tính đến di chuyển dân để làm đường giao thông tiếp cận).

Tuy nhiên, dù có mở rộng thì UBTVQH cũng cho rằng, không thể khai thác được hết công suất do xung đột vùng trời với sân bay quân sự Biên Hòa, do khu vực hoạt động của sân bay quân sự Biên Hòa nằm về phía Đông Bắc của Cảng HKQT Tân Sơn Nhất, ngay trên các cửa ngõ, hành lang bay vào, ra chính của Cảng HKQT Tân Sơn Nhất.

“Hướng này chiếm lưu lượng tới 60% tổng số chuyến bay đi đến của Tân Sơn Nhất hiện đã tiệm cận tới giới hạn tiếp nhận. Việc giảm hoạt động bay quân sự của Biên Hòa chỉ giúp giải tỏa bay chờ, chậm chuyến vào một thời điểm nhất định, không mang tính lâu dài và bền vững”- UBTVQH lập luận.

Thêm nữa, cảng HKQT Tân Sơn Nhất nằm trọn trong nội thị TP. Hồ Chí Minh, xung quanh có mật độ dân cư cao, do đó tiếng ồn máy bay có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe người dân và khả năng thiệt hại lớn về người nếu xảy ra tai nạn lúc máy bay hạ cất cánh.

Lý do thứ 4 được Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu dẫn giải là việc đưa, đón một lượng lớn hành khách ra vào Cảng HKQT Tân Sơn Nhất sẽ làm gia tăng áp lực giao thông trong thành phố do nguy cơ tắc nghẽn giao thông tại các cửa ngõ ra, vào sân bay.

Không khả thi nữa là do, theo báo cáo của Bộ Quốc phòng thì Cảng HKQT Tân Sơn Nhất là vị trí quan trọng về quốc phòng, có các đơn vị quân đội đóng quân, đi kèm với hạ tầng, phương tiện hậu cần kỹ thuật, là căn cứ quân sự dự bị chiến lược nên không thể dành toàn bộ đất cho mục đích khai thác dân dụng của Cảng HKQT Tân Sơn Nhất.

Thu hồi đất một lần để giảm chi phí bồi thường

Nhằm hạn chế việc tăng chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho những lần thu hồi sau đối với diện tích đất phải giải phóng mặt bằng dự án, UBTVQH đề nghị thu hồi một lần toàn bộ diện tích đất 5.000 ha của toàn dự án.

Theo đề xuất của Chính phủ gửi tới Quốc hội, trường hợp thu hồi đất trong giai đoạn 1 là 2.750 ha thì tổng mức đầu tư giai đoạn 1 của Dự án là 5,23 tỷ USD. Như vậy, theo đề xuất của UBTVQH, dự toán cho giai đoạn 1 sẽ tăng khoảng 220 triệu USD so với phương án chỉ thu hồi 2.750 ha theo đề xuất của Chính phủ.

UBTVQH cho biết, sau khi rà soát lại báo cáo đầu tư, nhu cầu sử dụng đất cho dự án là 2.750 ha (không bao gồm diện tích đất dành cho quốc phòng là 1.050 ha và đất dành cho các hạng mục phụ trợ, khu công nghiệp hàng không, các công trình thương mại khác là 1.200 ha). Do đó, Chính phủ đề xuất thu hồi 2.750 ha phục vụ trực tiếp cho dự án.

Tuy nhiên UBTVQH hội cho rằng, ngoài nhu cầu đất trực tiếp dùng cho dự án, nhu cầu đất dành cho quốc phòng, đất dành cho xây dựng Ga hàng hóa, khu bảo trì tàu bay, trung tâm điều hành của hãng hàng không… cũng rất cần thiết, không nên tách rời dự án và cần được thu hồi một lần để hạn chế việc tăng chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho những lần thu hồi sau.

Ngoài ra, việc sử dụng đất của người dân sống trong vùng dự án đã bị hạn chế do đã công bố quy hoạch nhiều năm nay. “Hiện nay, lãnh đạo tỉnh Đồng Nai và người dân sống trong vùng quy hoạch Dự án đều mong Dự án sớm triển khai để người dân ổn định cuộc sống, yên tâm đầu tư phát triển sản xuất”- ông Nguyễn Văn Giàu đánh giá.

UBTVQH cũng đề nghị, do dự án có quy mô thu hồi diện tích lớn và tác động đến nhiều hộ dân, tổ chức và có cả cơ sở thờ tự, cơ sở y tế, giáo dục, cơ quan Nhà nước, do vậy, cần nghiên cứu kinh nghiệm công tác di dân tái định cư đối với các công trình quan trọng quốc gia đã thực hiện để bảo đảm người dân di dời sớm ổn định cuộc sống, có nhà ở, đất canh tác, chuyển đổi nghề nghiệp.

Với những phân tích trên, UBTVQH đề nghị Quốc hội xem xét, quyết định việc thu hồi đất một lần 5.000 ha đối với Dự án theo cơ chế đặc thù, đồng thời giao Chính phủ có biện pháp quản lý, khai thác hiệu quả đất chưa sử dụng, tránh tình trạng để đất trống, lãng phí.

Trường Giang