Ung thư tụy chỉ chiếm 3% các loại ung thư nhưng tỷ lệ tử vong đứng hàng thứ 4 trong các loại ung thư với chỉ 26% bệnh nhân (BN) sống được 1 năm và 6% bệnh nhân sống thêm được 5 năm.

Các yếu tố nguy cơ và triệu chứng

Tụy là một cơ quan trong ổ bụng, nằm ngang sau đáy dạ dày và trước cột sống. Chức năng của tuyến tụy gồm có ngoại tiết sản xuất ra các enzyme đưa vào ruột non để tiêu hóa thức ăn và nội tiết sản xuất ra hai hormon insulin và glucagon giúp điều chỉnh glucose máu trong cơ thể.

95% ung thư tụy là ung thư tụy ngoại tiết, triệu chứng bệnh thường thầm lặng nên việc phát hiện ở giai đoạn sớm rất khó khăn. Khi đã có triệu chứng, thường bệnh đã ở giai đoạn tiến triển hoặc giai đoạn muộn.

Các yếu tố nguy cơ của ung thư tụy

Hút thuốc lá: đây là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất, làm tăng nguy cơung thư tụy gấp hai lần so với không hút thuốc. Khoảng 20-30% bệnh nhân ung thư tụy có hút thuốc lá. Những hóa chất trong thuốc lá vào máu và làm tổn thương tụy. Tất cả các loại thuốc lá đều có nguy cơ gâyung thư tụy, kể cả loại không khói.

Hình ảnh ung thư đuôi tuyến tuỵ

Thừa cân và béo phì: 20% người thừa cân và béo phì có khả năng hình thành ung thư tụy.

Phơi nhiễm với một số loại hóa chất như thuốc diệt côn trùng, thuốc nhuộm và hóa chất trong công nghiệp.

Tuổi cao: hầu hết được chẩn đoán trên 45 tuổi, tuổi trung bình lúc chẩn đoán là 71 tuổi.

Giới tính: khoảng 30% nam giới có khả năng mắc ung thư tụy nhiều hơn so với nữ giới.

Chủng tộc: người Mỹ gốc phi có nguy cơ mắc cao hơn người da trắng.

Tiền sử gia đình hoặc hội chứng di truyền như hội chứng ung thư vú, buồng trứng do đột biến gen BRCA2.

Các bệnh lý như đái tháo đường, đặc biệt typ 2, viêm tụy mạn tính, xơ gan, bệnh lý dạ dày.

Còn có những yếu tố chưa rõ có thể làm tăng nguy cơ ung thư tụy như: chế độ ăn nhiều thịt đỏ, thịt chế biến sẵn, lười vận động, uống cà phê, rượu... làm tăng nguy cơ, trong khi rau và hoa quả làm giảm nguy cơ.

Triệu chứng:

Đau bụng gặp ở 80 - 85% bệnh nhân, nhưng thường gặp khi bệnh đã tiến triển hoặc di căn. Đau bụng trên rốn âm ỉ, lan ra sau lưng, từng cơn và tăng lên khi ăn; gầy sút cân thường do chán ăn, mệt mỏi, tiêu chảy hoặc đi ngoài phân mỡ; vàng da gồm ngứa, tiểu màu vàng đậm, da và củng mạc mắt vàng.

Các xét nghiệm chẩn đoán

Siêu âm: thường được thực hiện đầu tiên khi bệnh nhân đến khám với biểu hiện giãn đường mật hoặc thấy khối u vùng đầu tụy. Độ nhạy trong chẩn đoán ung thư tụy là 75-89% và độ đặc hiệu 90-99%. Tuy nhiên giá trị của siêu âm còn thấp trong phát hiện và chẩn đoán sớm ung thư tụy, việc chẩn đoán cũng phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm của người làm siêu âm.

Nội soi mật tụy ngược dòng (ERCP): thường được sử dụng phổ biến trước đây nhưng hiện nay đã được thay thế bằng nội soi siêu âm. Nội soi mật tụy ngược dòng gợi ý các dấu hiệu ung thư tụy như hẹp hoặc tắc ống mật chung, ống dẫn tụy (dấu hiệu đường đôi), hẹp ống tụy dài trên 1cm và không có dấu hiệu viêm tụy mạn tính. Trước đây còn sinh thiết qua nội soi mật tụy ngược dòng nhưng hiện nay đã sử dụng dưới hướng dẫn của siêu âm nội soi. Nội soi mật tụy ngược dòng còn giữ vai trò quan trọng trong điều trị triệu chứng tắc mật.

Siêu âm nội soi: (EUS) cùng với chụp cắt lớp vi tính (CT scan) giúp chẩn đoán giai đoạn bệnh. Siêu âm nội soi giúp đánh giá chính xác mức độ xâm lấn của u, di căn hạch trong khi CT cho biết tình trạng di căn xa. Siêu âm nội soi đặc biệt tốt trong trường hợp trên CT ổ bụng nghi ngờ có huyết khối tĩnh mạch cửa hoặc tĩnh mạch mạc treo tràng trên. Ngoài ra, siêu âm nội soi còn giúp hướng dẫn sinh thiết kim để lấy được bệnh phẩm giúp cho chẩn đoán mô bệnh học.

Chụp CT ổ bụng có thể thấy khối u giảm đậm độ so với nhu mô tụy, dấu hiệu khác như mất tính liên tục của ống tụy, giãn ống tụy hoặc ống mật chung, phì đại nhu mô hoặc mất ranh giới đường viền xung quanh. CT xoắn ốc kết hợp tiêm thuốc cản quang mang lại những thông tin giá trị xem có xâm lấn các mạch máu lớn như tĩnh mạch cửa, động mạch và tĩnh mạch mạc treo tràng trên hay chưa để quyết định phẫu thuật.

Chụp cộng hưởng từ (MRI) và cộng hưởng từ đường mật (MRCP): MRI có thể xác định được ung thư biểu mô tuyến tụy nhưng lợi ích trong chẩn đoán không hơn CT xoắn ốc có tiêm thuốc cản quang nên việc lựa chọn xét nghiệm tùy thuộc vào bác sĩ. MRCP giúp xây dựng hình ảnh 3 chiều của cây đường mật, tụy, nhu mô gan, mạch máu. MRCP tốt hơn CT trong xác định cấu trúc giải phẫu cây đường mật và ống tụy như những tổn thương trên dưới chỗ hẹp hoặc trong gan.

Chụp cắt lớp vi tính phát xạ positron (PET/CT): là phương pháp rất có giá trị trong đánh giá giai đoạn bệnh vì có thể phát hiện và xác định những tổn thương di căn xa (di căn hạch, di căn phổi…).

Chất chỉ điểm khối u được dùng để theo dõi là CA19-9, được xác định là tăng khi giá trị trên 37UI/ml.

Quan trọng nhất trong chẩn đoán ung thư tụy là xét nghiệm giải phẫu bệnh. Sinh thiết u tụy được tiến hành qua da dưới hướng dẫn của siêu âm và CT hoặc siêu âm nội soi, thậm chí những trường hợp khó phải sinh thiết qua phẫu thuật mở bụng. Tuy nhiên không phải trường hợp nào cũng có thể chẩn đoán xác định bằng giải phẫu bệnh được.

Điều trị

Điều trị ung thư tụy dựa trên giai đoạn bệnh. Nếu bệnh còn ở giai đoạn khu trú thì phẫu thuật là phương pháp tốt nhất. Phương pháp phẫu thuật tùy thuộc vào vị trí của khối u. Chẳng hạn nếu khối ở vùng đầu tụy thì sẽ phẫu thuật cắt khối tá tụy (phẫu thuật Whipple). Đây là phẫu thuật lớn và phức tạp, chỉ ở các bệnh viện lớn và các phẫu thuật viên có kinh nghiệm mới thực hiện được.

Sau phẫu thuật, tùy thuộc vào mức độ xâm lấn u và số lượng hạch di căn thì bệnh nhân sẽ được điều trị bổ trợ hóa chất với các thuốc như gemcitabine, 5FU, capecitabine hoặc hóa xạ trị đồng thời. Nếu không phẫu thuật được, bệnh tiến triển tại chỗ, chưa có di căn xa sẽ được điều trị hóa chất hoặc kết hợp thêm với hóa xạ trị đồng thời. Tuy nhiên, kỹ thuật xạ trị ung thư tụy chưa được áp dụng rộng rãi do có nhiều tác dụng phụ. Hiện nay, các kỹ thuật xạ trị mới như xạ trị điều biến liều, xạ trị định vị đã giúp giảm tác dụng phụ nhưng vẫn đang được nghiên cứu và còn nhiều tranh cãi về hiệu quả.

Với ung thư di căn xa, hóa chất là lựa chọn tốt nhất cho bệnh nhân có thể trạng chung tốt hoặc chăm sóc giảm nhẹ cho bệnh nhân già, yếu. Hóa chất có hiệu quả nhất hiện nay trong ung thư tụy là gemcitabine có thể dùng đơn thuần hoặc kết hợp với các thuốc khác. Ngoài ra còn có 5FU hoặc dùng capecitabine - một dạng thuốc đường uống sẽ chuyển hóa thành 5FU tại khối u. Điều trị đích cũng được nghiên cứu mạnh mẽ trong ung thư tụy. Gemcitabine kết hợp với erlotinib hoặc bevacizumab hoặc cetuximab giúp kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân hơn so với gemcitabine đơn thuần nhưng lợi ích rất nhỏ so với giá tiền thuốc điều trị đích đắt nên cần cân nhắc.

Phòng bệnh

Ung thư tụy dù được phát hiện ở giai đoạn sớm thì thời gian sống cũng ngắn trong khi đa số bệnh nhân thường phát hiện ở giai đoạn muộn. Phòng bệnh hơn chữa bệnh. Muốn phòng bệnh chúng ta phải biết được các yếu tố nguy cơ của bệnh để thay đổi nó hoặc biết mình nằm trong nhóm nguy cơ cao để đi khám bệnh sàng lọc theo định kỳ.

Muốn phòng bệnh chúng ta cần có chế độ ăn hợp lý nhiều rau củ quả, ít thịt đỏ, không hút thuốc, không uống rượu và cà phê, tập luyện thể dục thể thao, tránh béo phì. Khi tiếp xúc với hóa chất độc hại cần có thiết bị bảo hộ phù hợp. Khám sức khỏe định kỳ hoặc ngay khi có các triệu chứng nghi ngờ như đau bụng, gầy sút cân...

 



Theo Sức khỏe & Đời sống