Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng: Thuật ngữ Công nghệ cao

BT

Đại hội XII của Đảng đề ra nhiệm vụ "Xây dựng chiến lược phát triển công nghệ của đất nước, chiến lược thu hút công nghệ từ bên ngoài và chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp FDI đang hoạt động trên đất nước ta.

Thuật ngữ công nghệ (Technology) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là technologia, hàm nghĩa về các công cụ, kỹ năng và mưu mẹo của con người trong các hoạt động sống. Công nghệ là sự tạo ra, sự biến đổi, việc sử dụng và kiến thức về các công cụ, máy móc, kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp, hệ thống và phương pháp tổ chức, nhằm giải quyết một vấn đề đặt ra, cải tiến một giải pháp đã tồn tại nhằm đạt một mục đích, hay thực hiện một chức năng cụ thể. Thuật ngữ công nghệ có thể được dùng theo nghĩa chung hay cho những lĩnh vực cụ thể, ví dụ như: Công nghệ xây dựng, công nghệ thông tin, công nghệ giáo dục...
Ủy ban Kinh tế và Xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) đưa ra khái niệm: Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin; Công nghệ bao gồm kiến thức, kỹ năng, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch vụ. Định nghĩa về công nghệ của ESCAP được coi là bước phát triển mới trong quan niệm về công nghé. Theo định nghĩa này, không chỉ sản xuất vật chất mới dùng công nghệ mà khái niệm công nghệ được mở rộng ra tất cả lĩnh vực hoạt động xã hội. ESCAP đã chỉ ra bốn thành phần cơ bản của công nghệ gồm: Kỹ thuật, con người, thông tin, tổ chức.
Đồng thời ESCAP cũng nêu lên cấu tạo của công nghệ gồm phần cứng và phần mềm. Trong đó, phần cứng bao gồm yếu tố đầu tiên, là những thành phần vật chất của công nghệ; Còn phần mềm bao gồm các yếu tố còn lại, là những nhân tốt thuộc về tri thức, trí tuệ, bí quyết, phương pháp tổ chức – quản lý… Tuy nhiên, ranh giới giữa phần cứng và phần mềm chỉ mang tính tương đối, vì chúng ngày càng thâm nhập lẫn nhau và phụ thuộc lẫn nhau. Nếu thiếu một trong bốn yếu tố trên thì hiệu suất của công nghệ chỉ đạt tố đa 30% và ngược lại, nếu hội đủ các yếu tố trên thì hiệu suất của công nghệ đạt tối thiểu 70%.
Như vậy, khái niệm công nghệ bao gồm nghĩa hẹp và nghĩa rộng: Nghĩa hẹp thiên về mặt kỹ thuật, nhưng kỹ thuật chỉ là một bộ phận hợp thành của công nghệ; Do đó, theo nghĩa rộng, công nghệ bao gồm tất cả các nhân tố cấu thành quy trình sản xuất (vật thể và phi vật thể) và cung cấp dịch vụ.
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đưa ra khái niệm rất khái quát về công nghệ cao như sau: công nghệ cao là các công nghệ có tỷ lệ chi cho nghiên cứu và phát triển lớn, có ý nghĩa chiến lược đối với quốc gia, các sản phẩm và quy trình công nghệ được đổi mới nhanh chóng, có tác động mạnh mẽ đối vối sự hợp tác và cạnh tranh quốc tế trong nghiên cứu và phát triển, sản xuất và chiếm lĩnh thị trường trên quy mô thế giới.
Công nghệ cao chứa đựng đầy đủ những yếu tố cấu thành và những đặc trưng bản chất của công nghệ, song với trình độ và hàm lượng tri thức, khoa học - công nghệ cao hơn, trở thành nhân tố quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, nhất là khi đi vào phát triển kinh tế tri thức.
Ở Việt Nam, khái niệm công nghệ cao được nêu trong Luật công nghệ cao năm 2008 như sau:
- Công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại; tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trưòng; có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có.
- Hoạt động công nghệ cao là hoạt động nghiên cứu, phát triển, tìm kiếm, chuyển giao, ứng dụng công nghệ cao; đào tạo nhân lực công nghệ cao; ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công nghệ cao; phát triển công nghiệp công nghệ cao.
- Sản phẩm công nghệ cao là sản phẩm do công nghệ cao tạo ra, có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường.
Theo Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2014 được Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) công bố ngày 3/9/2014, trình độ công nghệ của Việt Nam xếp hạng 99/144 nước.
Đại hội XII của Đảng đề ra nhiệm vụ "Xây dựng chiến lược phát triển công nghệ của đất nước, chiến lược thu hút công nghệ từ bên ngoài và chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp FDI đang hoạt động trên đất nước ta. Tăng cường hợp tác về khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ cao, phải là hướng ưu tiên trong hội nhập quốc tế"; "Hỗ trợ nhập khẩu công nghệ nguồn, công nghệ cao và kiểm soát chặt chẽ việc nhập khẩu công nghệ". 

  • Tag:
cùng chuyên mục
Kéo xuống để xem tiếp nội dung
Xem thêm trên infonet