Vì sao châu Á 'vung tiền' mua vũ khí? (2)

Phan Sương

“Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh” – nguyên nhân dẫn đến việc phình to của ngân sách quốc phòng tại các nước châu Á chẳng giống nhau nhưng có điều, chúng lại liên quan khá nhiều đến một cái tên quen thuộc ở châu Á: Trung Quốc.
Bài 2: AI ĐẨY CHÂU Á VÀO CUỘC ĐUA CHI TIÊU QUÂN SỰ?

Chuyện trong nhà

Không thể phủ nhận, những chương trình hiện đại hóa quân sự có liên quan khá nhiều đến các tính toán chính trị trong nước. Ở những nước mà quân đội can thiệp vào đời sống chính trị, các chính trị gia dân sự đôi khi phải sử dụng ngân sách quốc phòng lớn hơn nhằm mua sự bình yên. Một lý do khác liên quan đến chi phí quân sự được gắn trực tiếp đến việc ủng hộ các công ty trong nước được ưu đãi, hoặc các ngành công nghiệp hoặc cung cấp việc làm địa phương.

Bài 1: Cả châu lục cùng chạy đua

Tuy nhiên, điều này chỉ đúng với một quốc gia có nền công nghiệp quốc phòng tương đối phát triển như Ấn Độ, Nhật Bản và Singapore. Đơn đặt hàng thường xuyên đối với các tàu chiến và tàu ngầm của Nhật Bản có thể phản ánh niềm hy vọng duy trì vị trí ngành đóng tàu của đất nước ngang với mong muốn cải thiện an ninh, đặc biệt là sau khi các đơn đặt hàng tàu thương mại chủ yếu chuyển sang các nước “giá rẻ” như Trung Quốc và Hàn Quốc.

Giới lãnh đạo Trung Quốc hiểu rằng cách xây dựng quân đội truyền thống là không đủ để chống lại sức mạnh hải quân và không quân của Mỹ ở phía tây Thái Bình Dương và đã thúc đẩy hiện đại hóa PLA.

Mặc dù vậy, những toan tính chiến lược liên quan đến những thay đổi trong môi trường địa chính trị đã đóng vai trò lớn nhất trong việc tăng cường quân sự ở châu Á.

Ngay từ năm 1991, các nhà lãnh đạo Trung Quốc, sau khi chứng kiến sự thành công không thể phủ nhận về vũ khí và cách tổ chức của Mỹ trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh đã nhận ra sự cần thiết phải hiện đại hóa lực lượng vũ trang của họ. Cuối cùng giới lãnh đạo Trung Quốc hiểu ra rằng cách xây dựng quân đội truyền thống là không đủ để chống lại sức mạnh hải quân và không quân của Mỹ ở phía tây Thái Bình Dương và chỉ có cách hiện đại hóa quân sự toàn diện mới có thể hy vọng ngăn chặn các nước khác tác động đến "lợi ích cốt lõi" của Trung Quốc.

Bị đe dọa bởi Trung Quốc?

Việc tăng tốc hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc đã khiến các nước láng giềng châu Á nhận thấy sự suy giảm an ninh tương đối. Ấn Độ đã nhanh chóng phản ứng bởi những nghi ngờ trong lịch sử với Trung Quốc - kẻ thù trong cuộc xung đột biên giới năm 1962 giữa Trung Quốc và Ấn Độ và là một đồng minh của Pakistan - kẻ thù lâu năm của Ấn Độ. Và trong suốt những năm 2000, New Delhi không ngừng lo ngại về sự phát triển nhanh chóng của Trung Quốc với việc sử dụng (cả mục đích dân sự - quân sự) các cơ sở hạ tầng sân bay, đường sắt, và đường bộ ở Tây Tạng và những lợi ích thương mại ngày càng tăng ở Ấn Độ Dương.

Khi sức mạnh quân sự tăng lên, Trung Quốc lập tức lấn tới trong các tuyên bố chủ quyền.

Không xa lạ gì với các kế hoạch bao vây, các chuyên gia an ninh Ấn Độ đã nhận thấy Trung Quốc phát triển một "chuỗi ngọc trai" trên Ấn Độ Dương và có thể một ngày nào đó bao vây Ấn Độ. Và như vậy, ngay cả khi Trung Quốc thường nêu khẩu hiệu chống lại Mỹ, nhưng Ấn Độ cũng phải chú trọng đến khả năng quân sự của mình để đối phó với Trung Quốc và tự bản thân thấy mình cũng bị đe dọa. Ấn Độ cho xây dựng 6 tiền đồn trên núi (bao gồm cả hai tiền đồn mới) ở Arunachal Pradesh chỉ để đối mặt với 3 chốt tuần tra núi của Trung Quốc ở phía bên kia. Trong năm 2013, Ấn Độ thậm chí quyết định "về nguyên tắc" tài trợ cho một quân đoàn "tấn công" mới, để củng cố cho các đơn vị tiền tuyến một khả năng tấn công tốt hơn.

Trong những năm gần đây, nhiều nước châu Á khác đã bắt đầu phản ứng tương tự với sự tăng cường quân sự của Trung Quốc, mặc dù họ trước đó đã hoan nghênh sự trỗi dậy của Trung Quốc bởi vì những lợi ích kinh tế được mang lại. Nhưng khi Trung Quốc tự tin với việc gia tăng ảnh hưởng kinh tế và sức mạnh quân sự, Bắc Kinh bắt đầu khẳng định ưu tiên lợi ích của mình trong các tranh chấp với khu vực Đông Nam Á. Thay vì chấp nhận đối thoại đa phương, Trung Quốc dường như ngày càng đứng ngoài mối quan tâm khu vực Đông Nam Á và theo đuổi mục tiêu của mình riêng biệt hoặc chỉ thông qua đàm phán song phương. Thực tế là phương pháp tiếp cận gần đây của Trung Quốc xung đột với cả việc phân chia sử dụng sông Mekong và cả biên giới trên biển của nước này ở Biển Đông.    

Vào cuối năm 2007, Bắc Kinh đã nâng cấp cơ quan hành chính quản lý quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam trở thành "thành phố cấp quận" tại tỉnh Hải Nam. Sau đó, Trung Quốc đưa tuyên bố chủ quyền Biển Đông trở thành "lợi ích cốt lõi" của mình - thể hiện sự sẵn sàng chiến đấu. Một số nước Đông Nam Á công khai đối đầu với sự quyết đoán của Trung Quốc tại Diễn đàn Khu vực ASEAN lần thứ 17 vào năm 2010.

Các nước Đông Nam Á hiểu rằng cần phải tăng cường năng lực quốc phòng trước thái độ ngày càng ngang ngược của Trung Quốc trên Biển Đông.

Trung Quốc đã cảm thấy tức giận khi bị cự tuyệt. Trong năm 2012, Trung Quốc bị làm tăng thêm căng thẳng khi cho xây dựng cơ sở trên bãi cạn Scaborough mà Philippine tuyên bố chủ quyền và gây ra bế tắc hàng hải kéo dài hàng tháng. Kết quả là, mặc dù nhiều nước Đông Nam Á từng cho rằng lợi ích của Trung Quốc trong việc tăng cường quân sự là một phần của "sự trỗi dậy hòa bình" giờ đây họ cũng cẩn thận với Trung Quốc hơn rất nhiều và việc mua sắm quân sự cũng trở nên cấp bách hơn.   

Một loạt sự kiện tương tự xảy ra ở Quần đảo Senkaku (Điếu Ngư) mà Nhật Bản kiểm soát ở biển Hoa Đông. Bắt đầu từ năm 2010, tàu tuần tra Trung Quốc và Nhật Bản đã phải đối mặt nhau trong các vùng biển xung quanh các đảo. Sau đó, Bắc Kinh tăng cường tuần tra hàng hải tại khu vực này và cho phép công dân nước mình trút sự tức giận vào những lợi ích thương mại của Nhật Bản tại Trung Quốc. Mặt khác, ngày càng nhiều người Nhật thừa nhận sự cần thiết phải tăng cường chuẩn bị quốc phòng. Kết quả là Tokyo đã triển khai thêm một phi đội máy bay chiến đấu F- 15J đến Okinawa và duy trì tuần tra bảo vệ ở gần quần đảo tranh chấp suốt ngày đêm. Tuy nhiên, nhu cầu duy trì tuần tra như thế khiến các thiết bị của các lực lượng tự vệ của Nhật Bản và bảo vệ bờ biển đã bắt đầu căng thẳng, dẫn đến nhu cầu về máy bay và các tàu mới có khả năng hơn.   

Một số chuyên gia hiện nay cho rằng tăng cường quân sự của châu Á có thể dẫn đến tình trạng chạy đua vũ trang của một hoặc nhiều nước, thậm chí là giữa liên minh các nước. Cho đến nay, không một quốc gia châu Á hoặc liên minh các quốc gia có thể đủ khả năng để cạnh tranh trực tiếp với tốc độ cũng như quy mô hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc, ngăn cản sự suy giảm của nền kinh tế Trung Quốc. Tuy chưa hẳn là một cuộc chạy đua vũ trang, nhưng phần lớn việc tăng cường trang bị quân sự của châu Á có thể được mô tả như là một cuộc đuổi bắt vũ trang. Mặc dù các nước châu Á không đưa ra một khẩu hiệu đối với Trung Quốc, song họ đã cố gắng tăng cường sức mạnh quân sự - một phần thông qua việc hiện đại hóa quốc phòng và một phần thông qua các mối quan hệ gần gũi hơn với các cường quốc bên ngoài làm rào cản chống lại sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Chẳng có gì nghi ngờ đó là lý do tại sao các nước châu Á như Ấn Độ, Nhật Bản, Philippine.... có lợi ích dường như rất khác nhau trong quá khứ, hiện nay lại trở nên quá quan tâm đến hợp tác kinh tế và hợp tác an ninh.

  • Tag:
cùng chuyên mục
Kéo xuống để xem tiếp nội dung
Xem thêm trên infonet