Việt Nam chỉ có thể làm chủ công nghệ điện hạt nhân, đảm bảo an toàn và ngành điện hạt nhân phát triển bền vững khi sở hữu đội ngũ chuyên gia giỏi, hùng hậu, góp phần đưa những lĩnh vực khoa học này phát triển ở mức độ cao và đạt trình độ quốc tế.

Ngày 11/4/2013, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Dự án đào tạo nguồn nhân lực cho các dự án nhà máy điện hạt nhân (ĐHN) tại Ninh Thuận và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) được giao chủ trì, đào tạo nhân lực cho khối quản lý dự án, tư vấn và khối quản lý vận hành.

Tại các quốc gia phát triển về điện hạt nhân trên thế giới, ngành hạt nhân có ba phần chính: Các công ty điện lực vận hành các nhà máy điện hạt nhân; Cơ quan pháp quy hạt nhân có nhiệm vụ đưa ra hệ thống pháp quy, quy định, yêu cầu ràng buộc về an toàn đối với việc vận hành nhà máy điện hạt nhân để đảm bảo an toàn cho con người và môi trường; Và các cơ quan nghiên cứu triển khai và hỗ trợ kỹ thuật cho điện hạt nhân.

Với các nước này, có thể nghiên cứu triển khai và hỗ trợ kỹ thuật cho điện hạt nhân có sự tách biệt, nhưng ở Việt Nam, do lĩnh vực này vẫn chưa được hình thành rõ nên có thể coi cả hai cùng thuộc một bộ phận chung. Đây chính là đội ngũ các nhà nghiên cứu, các chuyên gia.

Đội ngũ này đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu, phát triển điện hạt nhân do vậy họ phải biết rõ về công nghệ, hệ thống trang thiết bị, chức năng, cũng như nắm rõ các quá trình vật lý xảy ra trong các hệ thống và thiết bị nhà máy điện hạt nhân, ảnh hưởng, tương tác giữa các hệ thống, thiết bị, phần này cũng giống như những người vận hành của Utilities.

Hơn nữa, đây phải là đội ngũ có đủ năng lực đánh giá được an toàn cho nhà máy điện hạt nhân, dự báo được những gì có thể xảy ra, ở mức độ nào; và nếu xảy ra thì (tình thế) sẽ ra sao, cách nào có thể phòng chống các sự cố, hay giảm thiểu hậu quả của sự cố.

Và là những người đảm trách công việc nghiên cứu phải có khả năng cao hơn để đề ra được các nhiệm vụ nghiên cứu liên quan, triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ nghiên cứu để ngày càng hiểu rõ và nắm sâu hơn về công nghệ, về các vấn đề an toàn, tiến tới hỗ trợ công tác vận hành ở các nhà máy điện hạt nhân đạt tính hiệu quả và kinh tế.

Ở mức độ nào đó, những người vận hành trong nhà máy điện hạt nhân cũng cần có những kiến thức và kỹ năng nêu trên, nhưng có thể ở mức độ và yêu cầu khác nhau. Đội ngũ nghiên cứu ở các nước có điện hạt nhân chính là những người làm việc tại các viện nghiên cứu, các trường đại học, hay các đơn vị tư vấn thiết kế (nhà máy điện hạt nhân). Dựa trên kết quả đánh giá và phân tích của họ, các công ty điện lực có thể củng cố vấn đề an toàn cho các nhà máy, hoặc quyết định đóng cửa nhà máy. Những kết quả nghiên cứu cũng là cơ sở để những người làm pháp quy hạt nhân xây dựng, hay đánh giá lại yêu cầu an toàn và đưa ra quy định chặt chẽ hơn để các công ty điện lực phải thực hiện và tuân thủ

Việt Nam đang bắt đầu chương trình điện hạt nhân. Đội ngũ chuyên gia, những người làm khoa học hiện nay về điện hạt nhân trước hết sẽ giúp Việt Nam hiểu rõ về công nghệ, các vấn đề an toàn, thực hiện các nhiệm vụ tư vấn về công nghệ và an toàn, về các vấn đề khác liên quan như: đánh giá tác động môi trường, phát tán phóng xạ, hay giữ và quản lý chất thải phóng xạ...

Việt Nam chỉ có thể làm chủ công nghệ điện hạt nhân, đảm bảo an toàn và ngành điện hạt nhân phát triển bền vững khi sở hữu đội ngũ chuyên gia giỏi, hùng hậu, góp phần đưa những lĩnh vực khoa học này phát triển ở mức độ cao và đạt trình độ quốc tế. 

Tuy nhiên, để đào tạo được đội ngũ cán bộ nghiên cứu triển khai phù hợp với yêu cầu, cần có sự chỉ đạo quyết tâm của Chính phủ. Cùng với đó là việc thực hiện một cách nghiêm túc Chương trình đào tạo chuyên gia điện hạt nhân (NEST) mà Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam đề xuất vào năm 2014.

Nguồn nhân lực khoa học trình độ cao là then chốt, chính họ mới là tiềm lực khoa học công nghệ của đất nước. Do vậy, Việt Nam cần chú trọng, quan tâm và ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực khoa học, đặc biệt cho chương trình điện hạt.


TS. Trần Chí Thành