Việt Nam vẫn đang bị các nước phát triển hơn, đặc biệt là Trung Quốc bỏ lại phía sau và ngày càng nới rộng khoảng cách.

TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam đánh giá, chặng đường 30 năm qua đã chứng kiến những giai đoạn thăng trầm cùng đột phá trong mở cửa thị trường, giá cả và tiến triển trên đường hội nhập quốc tế.

Các chuyên gia thảo luận tại Diễn đàn kinh tế Việt Nam 

Những thành tựu đáng kể đã được ghi nhận bao gồm tăng trưởng  kinh tế cao nhiều năm liên tục, đưa hàng triệu người thoái khỏi nghèo đói…Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đang bị các nước phát triển hơn, đặc biệt là Trung Quốc bỏ lại phía sau và ngày càng nới rộng khoảng cách.

Việt Nam đã từng được ví như một con rồng tiếp theo của Châu Á. Nhưng những thành tích kiểu như “đứng tốp đầu” trong các bảng xếp hạng toàn cầu- vị trí thứ 2 trong xuất khẩu cà phê, thứ 3 xuất khẩu lúa gạo hay thứ 4 về xuất khẩu thủy hải sản, hay cả những thành tích dễ dàng như  “tăng trưởng quý sau cao hơn quý trước”, “tăng trưởng tín dụng hằng năm đạt hoặc vượt kế hoạch đề ra từ đầu năm” dễ gây tâm lý thỏa mãn và “say sưa vì thắng lợi”.

Báo cáo của Bộ KHCN cho thấy, phần lớn các doanh nghiệp Việt đang sử dụng công nghệ lạc hậu 2 – 3 thế hệ so với trung bình thế giới; 80% - 90% công nghệ đang sử dụng là ngoại nhập;  76 % máy móc, dây chuyền CN nhập thuộc thế hệ 1950– 1960, 75% số thiết bị đã hết khấu hao, 50% là đồ tân trang.

Tính chung, thiết bị hiện đại chỉ 10%, trung bình 38%,  lạc hậu và rất lạc hậu 52% . Đặc biệt ở khu vực sản xuất nhỏ, thiết bị lạc hậu và rất lạc hậu chiếm 75%. 

Bên cạnh đó, tăng trưởng năng suất lao động ở Việt Nam sụt giảm trong giai đoạn mấy năm vừa qua. Nhiều lo ngại rằng nó sẽ kéo tăng trưởng kinh tế cả nước đi xuống và Việt Nam có thể rơi vào bẫy thu nhập trung  bình.

Sản xuất nông nghiệp từ lâu được coi là thế mạnh nhưng so sánh tỷ lệ giữa giá trị gia tăng nông nghiệp/nhân công Việt Nam đang ngày càng tụt hậu. Năng suất lao động nông nghiệp của Việt Nam chỉ tương đương 1% của Singapore, bằng 1-4% của Nhật Bản, Hàn Quốc hay các nước OECD; bằng ½ của các nước có thu nhập trung bình thấp.

Nếu coi quy mô GDP là biểu hiện của sức mạnh kinh tế tổng hợp của quốc gia, nếu lấy Trung Quốc làm cơ sở tham chiếu cho thấy sức mạnh kinh tế của Việt Nam ngày càng nhỏ. Năm 2013, quy mô GDP của Việt Nam chỉ tương đương 1,9% con số của Trung Quốc.

Đặc biệt hiện nay Việt Nam đang hội nhập sâu rộng nhưng nền kinh tế lại phụ thuộc vào nhập khẩu lớn, nhất là nhập khẩu đầu vào từ Trung Quốc.

Tham gia vào TPP, Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội nhưng theo TS. Trần Đình Thiên, nếu không cẩn thận Việt Nam sẽ thành giỏ rác của thế giới.

Trước thực trạng đó, Viện trưởng Viện Kinh tế nêu vấn đề: “Việt Nam thực sự đã thoát khỏi trình độ con trâu đi trước cái cày đi sau để chuyển sang đẳng cấp khác chưa, chúng ta đã có nền tảng công nghiệp hóa chưa?”.

“Có vẻ như Việt Nam chưa thoát khỏi đẳng cấp phát triển thấp. Nó thể hiện ở khía cạnh công nghệ kỹ thuật hiện nay vẫn gia công, lắp ráp, khai thác tài nguyên là chính”, TS Thiên nói.

GS. TSKH Nguyễn Quang Thái cũng cho rằng "Việt Nam đang tụt hậu và tụt hậu xa hơn" trong một số lĩnh vực trong khi nền kinh tế chuyển biến nhanh.

Ngay các nước có thể coi là “tụt hậu” như Campuchia, Lào và Myanmar cũng đang có chuyển động mạnh, với tốc độ tăng trưởng mấy năm nay đều cao hơn Việt Nam.

GS. Thái chỉ ra “Khi Việt Nam có GDP bình quân 100 USD thì thế giới đã hơn 4000 USD; khi Việt Nam tăng lên 2200 USD như hiện nay thì thế giới đã vượt 10.000 USD, tức là khoảng cách theo quy mô GDP bình quân đã tăng lên gấp 2 lần. Chỉ tiêu phát triển con người HDI, chỉ tiêu kinh tế tri thức KEI vẫn đứng thức dưới 100, thậm chí nhiều chỉ tiêu khác còn thấp hơn.

Theo GS. Nguyễn Quang Thái, về quy mô và chất lượng tăng trưởng kinh tế, sự tụt hậu thể hiện khá rõ. Việt Nam có lợi thế như trồng lúa, nhưng do không chú trọng chất lượng, nên tuy xuất khẩu đạt 7 triệutấn, nhưng hiệu quả thu về thấp. Xuất khẩu lúa đến nay không có thương hiệu quốc gia.

Trước những thách thức của nền kinh tế, TS. Trần Đình Thiên lo lắng “Vậy đến năm 2035, tức sau hai thập niên, sau 50 năm đổi mới, Việt Nam sẽ nằm ở đâu trên bản đồ kinh tế thế giới?”.

Thay đổi từ tư duy

Theo TS. Trần Đình Thiên, nếu Việt Nam chỉ tiến trong cơ chế cũ thì không giải quyết được vấn đề. Nền kinh tế hiện nay cần phải thoát khỏi giằng níu cũ về đổi mới tư duy, thoát khỏi sự phụ thuộc nhập khẩu từ nước ngoài.

Tại Diễn đàn, TS. Vũ Tuấn Anh, Chuyên gia kinh tế cao cấp, Viện Kinh tế Việt Nam cũng nêu lên một loạt những tồn tại của nền kinh tế.

Đặc biệt là hiện nay Việt Nam phát triển công nghiệp nhưng phụ thuộc nặng vào vốn và kỹ thuật nước ngoài, năng lực nội sinh cho công nghiệp hóa rất yếu, khoa học công nghệ chưa được chú trọng.

Giá trị sản lượng công nghiệp do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng tăng, hiện chiếm tới trên 50% trong khi đó khu vực kinh tế tư nhân trong nước chỉ chiếm trên 30%.

Theo chuyên gia Vũ Anh Tuấn, nếu tiếp tục công nghiệp hóa như bây giờ, công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ chiếm lĩnh nền công nghiệp Việt Nam.

Bên cạnh đó, Việt Nam vui mừng vì tham gia các Hiệp định như TPP nhưng theo ông Tuấn Anh “ thực tế  chúng ta giống như một anh nông dân vác cuốc bước vào thế giới với nào chíp, vi tính. Liệu chúng ta có cơ hội gì trong đó hay không”.

Theo TS. Vũ Tuấn Anh, điều quan trọng nhất là phải thay đổi thay đổi tư duy, thể chế kinh tế thì Việt Nam mới có thể tiến lên được. Vấn đề đặt ra cho nền kinh tế sắp tới là tái cấu trúc và thay đổi mô hình tăng trưởng.

Bên cạnh đó, để đưa nền kinh tế vượt qua khó khăn thì ý chí tự cường dân tộc cần phải nâng lên chứ không thể ngồi chờ vào vốn đầu tư nước ngoài, chờ vào TPP làm thay đổi, chờ quốc tế thúc ép Việt Nam phải lớn lên.

Diệu Thùy