Theo các chuyên gia nghiên cứu, WTO đã gióng lên hồi chuông cảnh báo VN không nên quá tự mãn đối với việc ký kết những FTA đầy hứa hẹn như TTP, AEC...

Tại “Hội thảo Đánh giá tác động của Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) lên nền kinh tế Việt Nam: Các tác động vĩ mô và trường hợp ngành chăn nuôi”, diễn ra vào sáng 3/8, TS. Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) nhận định: Hội nhập luôn mang đến cả cơ hội và thách thức. Gắn liền với chúng là những được và mất. Do đó cần phải có sự chuẩn bị thật kĩ để tận dụng được những cơ hội mà TPP mang lại.

Theo Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách, khi TPP được thực thi, các dòng thuế quan giảm về 0% , ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách.

Quá trình hội nhập của VN trong vài thập kỷ gần đây đã giúp mang lại cho đất nước tăng trưởng kinh tế đầu tư, xuất khẩu và thu nhập. Tuy nhiên mức độ mở cửa càng rộng thì rủi ro từ bên ngoài càng cao và thậm chí có thể làm xấu đi những rủi ro nội tại.

Sự kiện VN gia nhập WTO cũng đã từng nhận được rất nhiều kỳ vọng. Tuy nhiên nguồn vốn lớn ồ ạt đổ vào VN đi kèm với chính sách tiền tệ thiếu kinh nghiệm (chính sách quản lý neo tỷ giá với độ mở cao hơn) đã góp phần thổi phồng bong bóng bất động sản và khiến lạm phát hai chữ số trở lại vào năm 2008.

Theo các chuyên gia nghiên cứu, sự phụ thuộc lớn của VN vào nhập khẩu và đầu tư nước ngoài, các ảnh hưởng kéo dài của khủng hoảng kinh tế thế giới và những yếu kém nội tại kéo dài trong giai đoạn lạc hậu- WTO đã gióng lên hồi chuông cảnh báo VN không nên quá tự mãn đối với việc ký kết những FTA đầy hứa hẹn như TTP, AEC. Do đó cần phải nhận thức rõ ràng hơn nữa về những cơ hội, thách thức để có chuẩn bị tốt.

Báo cáo của VEPR đã chỉ ra những tác động lớn của TPP đối với nền kinh tế Việt Nam đó là khi Hiệp định được thực thi, các dòng thuế quan sẽ giảm về 0% khiến doanh thu từ thuế giảm. Điều này làm ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách, Chính phủ có thể tìm cách bù đắp nguồn thâm hụt này bằng các nguồn khác như tăng các loại thuế khác, tăng vay nợ hoặc cắt giảm chi tiêu thường xuyên, trợ cấp hoặc đầu tư công nhằm ổn định cán cân chính sách. Do đó các chính sách nên tập trung vào cắt giảm chi tiêu thường xuyên.

Nhập khẩu gia tăng trong khi xuất khẩu có xu hướng giảm. Với những ngành sẽ mở rộng sau TPP và AEC, nhân tố quan trọng nhất là đảm bảo sự dịch chuyển tự do của nguồn lực sản xuất như lao động, vốn, đất đai, và các tài nguyên khác. Với những ngành kém lợi thế sau hội nhập phải đẩy mạnh tái cơ cấu.

Việc tham gia các Hiệp định thương mại tự do không những đòi hỏi các nước tham gia phải cắt giảm thuế quan mà càng quan tâm hơn đến vấn đề cắt giảm hàng rào phi thuế quan như chi phí vận chuyển, thủ tục chờ đợi nhập khẩu…Khi tham gia TPP Việt Nam phải điều chỉnh cả những yếu tố không phải yếu tố thương mại như liên quan tới lao động, quyền sở hữu trí tuệ…Do đó thực hiện cam kết TPP đòi hỏi thay đổi về chính sách, luật pháp trong nước.

Không chỉ TPP và AEC mà các Hiệp định thương mại tự do ngày nay có xu hướng cắt giảm hoàn toàn hàng rào thuế quan, đưa mức thuế nhập khẩu về 0 đối với hầu hết các nhóm hàng hóa. Chính vì vậy các nước sẽ có xu hướng áp dụng các hàng rào kỹ thuật thay thế để bảo vệ các ngành sản xuất nội địa của mình. 

Hiện nay trình độ công nghệ liên quan đến áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật của VN còn rất hạn chế. Biện pháp này chưa được áp dụng trong khi một số mặt hàng của nước ta khi không đủ tiêu chuẩn kỹ thuật do một số nước đặt ra đã phải trả về. Theo nhóm nghiên cứu để cải thiện tình trạng này Chính phủ cần tăng cường hỗ trợ nghiên cứu, đào tạo và ứng dụng tiêu chuẩn kỹ thuật hợp lý khi hàng rào thuế quan bị dỡ bỏ để bảo vệ sản xuất trong nước…

Và cuối cùng, đầu tư (bao gồm cả đầu tư trong nước và nước ngoài) của Việt Nam sẽ tăng mạnh. Các nước sẽ tăng cường dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Đây vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với Việt Nam trong việc thu hút hiệu quả dòng vốn FDI. Theo kết quả mô hình mô phỏng cho thấy, Việt Nam sẽ gia tăng về tiêu dùng và đầu tư, đặc biệt là những ngành công nghiệp nhe như may mặc, dệt, da giày tăng sản lượng và xuất khẩu. Tuy nhiên các ngành này đòi hỏi lao động giá rẻ để thu hút đầu tư. Một khi mức lương của VN tăng liên tục thì những nhà đầu tư nước ngoài sẽ không bám rễ tại đây, có thể họ sẽ tìm kiếm và lựa chọn nước khác làm điểm đến mới cho đầu tư.

Theo nhóm nghiên cứu, VN không nên phụ thuộc vào những lợi ích ngắn hạn mà TPP mang đến, thay vào đó nên tiếp tục, đẩy mạnh những nỗ lực cải cách trong các lĩnh vực.

Diệu Thùy