Các chuyên gia của WB đưa ra dự báo tăng trưởng GDP năm 2015 của Việt Nam sẽ “dừng” ở mức 6%, lạm phát ở mức 4,5%. Các chỉ số này sẽ tăng lên mức 6,2% và 5% trong năm 2016.

Đánh giá này được các chuyên gia của Ngân hàng Thế giới (World Bank – WB) đưa ra trong bản báo cáo cập nhật kinh tế khu vực Đông Á – Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam, công bố sáng 13/4.

Dữ liệu dự báo về tốc độ tăng trưởng GDP và lạm phát của Việt Nam trong năm 2015 được WB đưa ra lần này có vẻ lạc quan hơn so với dự báo đưa ra cách đây 6 tháng.

Lý giải về những nguyên nhân khiến các chuyên gia kinh tế của WB nâng mức dự báo tăng trưởng và lạm phát của Việt Nam năm 2015, ông Axel van Trotsenburg – Phó Chủ tịch phụ trách Khu vực Đông Á – Thái Bình Dương của WB phân tích, sở dĩ WB đưa ra dự báo lạc quan hơn với Việt Nam một phần do tác động của giá dầu giảm. Thực tế, dù Việt Nam sản xuất và xuất khẩu dầu, nhưng cũng là nước sử dụng nhiên liệu năng lượng trong quá trình sản xuất lớn. Do đó, khi giá dầu giảm đã tác động tới nền kinh tế của Việt Nam.

Thêm lý do nữa, xuất khẩu tăng mạnh và kiều hối ổn định là những yếu tố giúp cán cân vãng lai tiếp tục thặng dư, mặc dù quy mô thặng dư sẽ giảm do kinh tế khởi sắc kéo theo nhập khẩu gia tăng.

Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lạc quan trong năm 2014 và quý I/2015 cũng là những cứ liệu quan trọng góp phần vào tăng GDP của Việt Nam. Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch & Đầu tư, trong quý I/2015 Việt Nam đã thu hút được 1,837 tỷ USD vốn FDI.

“Trong trung hạn vẫn còn rất nhiều thách thức với nền kinh tế Việt Nam. Giá dầu giảm cũng có thể gia tăng áp lực với thu ngân sách. Đầu tư tư nhân trong nước vẫn còn dè dặt bởi niềm tin của doanh nghiệp còn thấp”- ông Axel bình luận.

Cũng theo báo cáo của WB, thời gian gần đây đã có những dấu hiệu tích cực cho thấy sự khởi sắc trở lại của nền kinh tế Việt Nam. Tăng trưởng GDP đạt 7% trong quý IV/2014, góp phần đưa tỷ lệ tăng trưởng cả năm 2014 lên mức 6% - mức cao nhất kể từ năm 2011. Sự khởi sắc trong nền kinh tế được dẫn dắt bởi các ngành nông nghiệp và chế tạo. Khu vực dịch vụ tăng trưởng 6%, cao hơn so với năm 2013.

Song bản báo cáo cũng đưa ra những mối lo ngại đối với nền kinh tế Việt Nam. Trước tiên, nợ công gia tăng đang trở thành một mối quan ngại đối với Chính phủ Việt Nam. Nợ công gia tăng chủ yếu do nhu cầu bù đắp thâm hụt ngân sách, phần lớn huy động từ nguồn vốn nội địa.

Tổng dư nợ công và nợ được bảo lãnh công là 61% GDP tính đến cuối năm 2014, trong đó nợ trong nước đã tăng từ 23%GDP năm 2010 lên 32% năm 2014. Nghĩa vụ trả nợ dự phòng trong khu vực ngân hàng và doanh nghiệp Nhà nước đang gia tăng áp lực đối với sự bền vững nợ công.

Mối lo thứ 2 là dù đã khởi động, nhưng những cải cách khu vực doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) và ngân hàng vẫn đang diễn ra rất ì ạch. 148 DNNN đã được cổ phần hóa (CPH) trong năm 2014, gấp đôi con số năm 2013, nhưng vẫn thấp hơn chỉ tiêu CPH 200 DNNN trong năm 2014.

Chính phủ Việt Nam đặt mục tiêu năm 2015 sẽ CPH xong 289 DNNN, đây là một thách thức khá lớn, khi theo tính toán của cơ quan quản lý “mỗi ngày sẽ phải CPH được 1 DN”.

Hiện tại, quá trình cải cách DNNN đang tập trung vào việc nâng hiệu quả hoạt động và mức độ cạnh tranh trong khu vực doanh nghiệp, với những biện pháp có trọng tâm nhằm củng cố quản trị DN và thực thi hợp đồng, cũng như giảm các rào cản gia nhập thị trường.

Để nhà đầu tư trong nước và quốc tế đặt niềm tin, tạo đà vững chắc cho tăng trưởng mạnh mẽ hơn trong tương lai, các chuyên gia WB khuyến nghị, “Việt Nam cần những nỗ lực đổi mới khu vực ngân hàng, DNNN với quyết tâm cao hơn rõ ràng hơn.  Đặc biệt, việc thúc đẩy một sân chơi bình đẳng giữa DNNN và DN dân doanh”.

Trường Giang